STEROID GÂY ĐỒNG HOÁ, ALKYL HOÁ Ở C17 LÀ GÌ , CÔNG DỤNG, CÁCH PHỐI HỢP , TƯƠNG TÁC, CHÚ Ý SỬ DỤNG


Dẫn chất androgen, trên lý thuyết ít tác dụng nam hoá,
đồng thời gây đồng hoá mạnh

CÁC THUỐC TRONG NHÓM

MESTEROLON
Provironum viên nén 25 mg
NANDROLON ống tiêm 10 mg/1mL; 20 mg/2mL; 25 mg/1mL
Durabolin ống tiêm 10 mg/1mL
Extraboline ống tiêm 20 mg/2mL
Metabol 25 ống tiêm 25 mg/1mL
NANDROLON DECANOAT ống tiêm 50 mg/1mL; 25 mg/1mL
Deca - Durabolin ống tiêm 50 mg/1mL
Matader 25 ống tiêm 25 mg/1mL
TESTOSTERON
Androgel gel bôi da 50 mg/5g
TESTOSTERON DECANOAT ống tiêm 250 mg/1mL
Sustanon 250 ống tiêm 250 mg/1mL
TESTOSTERON UNDECANOAT
Andriol nang 40 mg
TESTOSTERON heptylat ống tiêm 50 mg/1mL; 100 mg/1mL; 250 mg/1mL
Heptylat de testosteron ống tiêm 50 mg/1mL; 100 mg/1mL; 250 mg/1 mL
TESTOSTERON ENANTHAT ống tiêm 250 mg/1mL
Testosteron enanthate ống tiêm 250 mg/1mL

Testoviron Depot ống tiêm 250 mg/1mL
CHÚ Ý KHI CHỈ ĐỊNH THUỐC

Cân nhắc nguy cơ / lợi ích: mức độ 3

Thời kỳ cho con bú: Do các steroid qua được sữa mẹ.
Trẻ em: Việc dùng các thuốc gây đồng hóa cho trẻ nhỏ là vấn đề còn đang tranh cãi. Ngoài những tác dụng nam hóa, thuốc có thể gây những rối loạn nghiêm trọng và vĩnh viễn về tăng trưởng. Đối với trẻ em gái chưa đến tuổi dậy thì, tuyệt đối chống chỉ định loại thuốc này.
Thời kỳ mang thai: Thuốc đồng hoá gây nam hóa thai nhi nữ, có thể gây tính ái nam ái nữ giả ở các mức độ khác nhau, tùy thời gian bắt đầu dùng thuốc.
Phì đại tuyến tiền liệt; u tuyến tiền liệt: Chống chỉ định kinh điển, vì testosteron kích thích tăng sinh các khối u tuyến tiền liệt có từ trước.
Suy gan: Thuốc đồng hóa độc với gan, có thể gây vàng da do ứ mật trong gan.

Cần theo dõi: mức độ 1

Suy tim: Thuốc đồng hoá có thể gây phù nề, giữ natri và nước, phải tránh sử dụng ở những người suy tim.
Suy thận: Thuốc đồng hoá có thể gây phù nề, giữ natri và nước, phải tránh sử dụng ở những người suy thận.
TƯƠNG TÁC THUỐC

Tương tác cần thận trọng: mức độ 2

Corticoid - khoáng; glucocorticoid; tetracosactid
Phân tích: Dùng đồng thời hai thuốc sẽ làm tăng nguy cơ xuất hiện phù nề. Tương tác dược lực.
Xử lý: Cân nhắc xem có cần ghi đơn cả hai thuốc không? Hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp và theo dõi ion đồ. Cần chú ý đến việc sử dụng "giấu diếm" các steroid đồng hoá (ở những vận động viên).
Cyclosporin
Phân tích: Tăng nồng độ cyclosporin trong huyết tương do tăng hấp thu hoặc do ức chế chuyển hoá ở gan.
Xử lý: Do có khác nhau lớn giữa các cá thể, cho nên lúc đầu chỉ dùng nửa liều (50% liều dùng), và thường xuyên hiệu chỉnh liều cyclosporin khi bắt đầu, trong khi và khi ngừng dùng chất đồng hoá.
Thuốc uống chống đông máu kháng vitamin K
Phân tích: Tác dụng chống đông máu tăng do một cơ chế chưa được giải thích rõ ràng. Có thể do giảm lượng các tiền yếu tố đông máu, hay do dị hoá và do tăng ái lực của các thụ thể với chất chống đông máu.
Xử lý: Hiệu chỉnh liều lượng lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị, chú ý đến trình tự thời gian dùng mỗi thứ thuốc. Theo dõi người bệnh bằng đo tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế (INR) hay tỉ lệ prothrombin (TP).

Tương tác cần theo dõi: mức độ 1

Biguanid; insulin; sulfamid hạ glucose máu
Phân tích: Steroid đồng hoá có thể làm hạ glucose máu. Tương tác này đã được xác nhận với một số steroid đồng hoá.
Xử lý: Cần tăng cường theo dõi glucose máu, thông báo cho người bệnh biết nguy cơ (dấu hiệu hạ glucose máu) và hiệu chỉnh liều cho thích hợp. Các dấu hiệu hạ glucose máu bao gồm: các dấu hiệu do tiết quá nhiều adrenalin như đổ mồ hôi, run rẩy, nhịp tim nhanh, lo âu, đói; các dấu hiệu do loạn chức năng hệ thần kinh trung ương như cảm giác khó chịu, nhức đầu, rối loạn thị giác, giảm sự sắc sảo về trí tuệ, lú lẫn, ứng xử bất thường, co giật, mất ý thức.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Phối hợp nguy hiểm: mức độ 4

Probenecid

Phân tích: Probenecid ức chế bài tiết các sulfamid qua thận. Tương tác này có thể được sử dụng để giảm liều lượng các sulfamid, nhưng độc tính của bản thân sulfamid làm cho liệu pháp nguy hiểm, khi vô ý phối hợp thuốc (nguy cơ hạ glucose máu).
Xử lý: Sử dụng probenecid để làm chậm đào thải nhiều thuốc có thể và đã được thực hiện để làm giảm liều lượng một số thuốc. Vấn đề là phải rất cảnh giác về nguy cơ tiềm tàng của biện pháp và độc tính của thuốc phối hợp. Cần xem xét bối cảnh sinh lý bệnh học cụ thể.
Thuốc chống nấm dẫn xuất imidazol
Phân tích: Tăng đáng kể tác dụng hạ glucose máu do các dẫn chất imidazol ức chế cytochrom P450. Theo dõi glucose máu. Tương tác này chủ yếu được mô tả với miconazol và fluconazol.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, phải báo trước cho người bệnh nguy cơ hạ glucose máu để tăng cường tự theo dõi. Hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp, lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị.

Cân nhắc nguy cơ/ lợi ích: mức độ 3

Danazol
Phân tích: Danazol làm tăng glucose máu và tăng sự kháng insulin.
Xử lý: Khi phối hợp thuốc, cần theo dõi chặt chẽ nồng độ glucose máu. Khuyên người bệnh tăng cường tự theo dõi và khi cần, hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp bắt đầu, khi đang và khi ngừng điều trị với danazol.
Glucagon
Phân tích: Tương tác dược lực học. Glucagon tạo điều kiện đồng thời cho sự tân tạo glucose và sự thủy phân glycogen, bằng cách cảm ứng adenylcyclase để sinh AMP vòng. Hậu quả là tăng nồng độ glucose trong huyết tương.
Xử lý: Phối hợp glucagon với các thuốc hạ glucose máu là không hợp lý, trừ trường hợp cần đối kháng dược lý.
Glucocorticoid
Phân tích: Giảm tác dụng của các sulfamid chống tiểu đường do tính chất tăng glucose máu gián tiếp của thuốc này. Giảm tính dung nạp glucid do corticoid và có nguy cơ nhiễm ceton.
Xử lý: Phải tính tới tác dụng của các corticoid khi điều trị với các thuốc chống tiểu đường. Cần lập cân bằng nồng độ glucose trong máu lúc bắt đầu, lúc đang và sau khi điều trị với corticoid. Thông báo cho người bệnh về những biến động glucose máu, và lập kế hoạch dùng thuốc.
Methenamin
Phân tích: Trong nước tiểu acid, methenamin giáng hoá thành formol gây nguy cơ kết tủa các sulfamid ít hoà tan, có thể dẫn đến tinh thể niệu và sỏi thận.
Xử lý: Tốt hơn là nên thay đổi thuốc.
Pyrazol
Phân tích: Các prostaglandin tham gia cơ chế điều hoà glucose máu, do đó làm tăng nguy cơ hạ glucose máu. Ngoài ra, các thuốc chống viêm không steroid liên kết mạnh với các protein huyết tương, nên có nguy cơ đẩy sulfamid khỏi liên kết với protein huyết tương.
Xử lý: Có thể thấy những biến động nhẹ glucose máu, đòi hỏi phải hiệu chỉnh liều lượng lúc bắt đầu, trong khi và sau khi ngừng điều trị với các pyrazol. Thông báo cho người bệnh để tăng cường tự theo dõi và lập một chương trình dùng thuốc đều đặn.
Ritonavir
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A4 của cytochrom P450. Có nguy cơ quan trọng trong cạnh tranh giữa ritonavir với các thuốc bị chuyển hoá bởi isoenzym này. Sự cạnh tranh này gây giảm chuyển hoá các thuốc đó, và có nguy cơ gây tăng đáng kể nồng độ của chúng trong huyết tương. Nguy cơ hạ glucose máu có thể dẫn tới hôn mê do hạ glucose máu (đã được mô tả với tolbutamid). Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Đo đều đặn glucose máu, và nếu cần thì giảm liều lượng sulfamid chống tiểu đường.
Rượu
Phân tích: Rượu làm tăng tác dụng hạ glucose máu của các thuốc chống tiểu đường do một cơ chế chưa hoàn toàn sáng tỏ. Có thể sự tân tạo glucose ở gan bị rượu ức chế. Với clorpropamid (Diabinese*) và ở mức độ thấp hơn, với tolbutamid (Dolipol*), glibenclamid (Daonil*, Euglucan*), glipizid (Glibenese*, Minidiab*), có nguy cơ gây tác dụng antabuse (kiểu disulfiram) do có tương tác với cơ chế của rượu: có một tỉ lệ bất thường acetaldehyd tích lũy ở mô (ức chế enzym) kéo theo một số dấu hiệu lâm sàng, như các cơn vận mạch, giãn mạch mạnh, nhịp tim nhanh, nhiệt độ cao, buồn nôn, nôn, phát ban ngoài da, đôi khi hạ huyết áp và trụy tim mạch. Các triệu chứng này nặng hay nhẹ tùy lượng rượu đã uống.

Xử lý: ở một số người, rất khó kiểm soát lượng rượu uống. Cần làm cho họ có ý thức cảnh giác trước nguy cơ hạ glucose máu, và hạn chế đến mức tối đa lượng rượu uống. Đặc biệt tránh uống rượu lúc đói. Nếu đã biết người bệnh uống rượu thì tránh không dùng clorpropamid (Diabinese*). Chọn một sulfonylurê khác.
Tetracosactid
Phân tích: Giảm tác dụng của insulin do tính chất kích thích bài tiết corticoid làm tăng glucose máu gián tiếp. Giảm dung nạp glucid do corticoid và có nguy cơ nhiễm ceton.
Xử lý: Cần tính tới các tác dụng của tetracosactid làm tăng corticoid khi điều trị với các thuốc chống tiểu đường. Cần thiết lập cân bằng glucose máu
lúc bắt đầu, trong khi và sau khi điều trị với tetracosactid. Thông báo cho
người bệnh các nguy cơ về biến động glucose máu và lập kế hoạch dùng thuốc đều đặn.
Thuốc kiềm hoá nước tiểu
Phân tích: Các thuốc có tác dụng kiềm hoá nước tiểu làm tăng sự đào thải clorpropamid (Diabinese). Cơ chế là do khi pH của nước tiểu tăng, thì sự thanh lọc clorpropamid qua thận cũng tăng.
Xử lý: Việc kiềm hoá nước tiểu là có ích để điều trị nhiễm độc clorpropamid. Nhưng khi người bệnh dùng clorpropamid bình thường, lại dùng thêm thuốc có tác dụng kiềm hoá nước tiểu như natribicarbonat, thì phải theo dõi nồng độ glucose máu, và nếu cần, phải tăng liều clorpromamid.
Thuốc lợi tiểu thiazid
Phân tích: Thuốc lợi tiểu thiazid làm tăng glucose máu khi đói và làm giảm tác dụng hạ glucose máu của sulfonylurê. Tác dụng này xuất hiện cùng hiện tượng hạ natri máu sau khi uống thuốc lợi tiểu thiazid vài ngày đến
vài tháng. Cơ chế các thuốc lợi tiểu thiazid làm giảm tính nhạy cảm của mô với insulin, làm giảm tiết insulin hoặc làm tăng đào thải kali, gây tăng glucose máu.
Xử lý: Theo dõi chặt chẽ glucose máu ở người bệnh có glucose máu tăng cao, có thể tăng liều sulfonylurea.
Thuốc ức chế monoamino oxidase (MAOI)
Phân tích: Các thuốc ức chế MAO làm tăng tác dụng hạ glucose máu của sulfonylurea. Cơ chế chưa rõ.
Xử lý: Nếu bắt buộc phải kết hợp sulfonylurea với các thuốc ức chế MAO, phải theo dõi cẩn thận người bệnh. Nếu glucose máu bị hạ quá thấp, phải hiệu chỉnh liều các thuốc.

Tương tác cần thận trọng: mức độ 2

Alopurinol hoặc dẫn chất
Phân tích: Alopurinol có thể ức chế clopropamid tiết qua ống thận, dẫn tới nguy cơ hạ glucose máu nghiêm trọng do tăng nửa đời của clorpropamid.
Xử lý: Đặc biệt cảnh giác khi sử dụng những thuốc này ở người suy thận khi dùng hai thuốc này. Theo dõi chặt chẽ glucose máu lúc bắt đầu, trong khi và sau khi ngừng điều trị alopurinol. Tương tác này mới chỉ được mô tả với clorpropamid và không nói tới các sulfamid chống tiểu đường khác. Như vậy, tốt hơn nên dùng một thuốc chống tiểu đường khác nếu có thể.
Asparaginase
Phân tích: Asparaginase có thể làm rối loạn cân bằng glucose máu do tính chất gây tăng glucose máu.
Xử lý: Theo dõi glucose máu, đặc biệt ở những người bệnh tiểu đường, trong và sau khi điều trị với asparaginase.
Cholestyramin
Phân tích: Làm giảm hấp thu sulfamid chống tiểu đường qua đường tiêu hoá.
Xử lý: Nếu cần kê đơn cả hai thuốc, khuyên nên uống sulfamid chống tiểu đường hoặc hai giờ trước, hoặc bốn giờ sau khi dùng cholestyramin
Diazoxyd
Phân tích: Tương tác dược lực giữa một thuốc hạ glucose máu với một thuốc tăng glucose máu. Có đối kháng dược lý.
Xử lý: Chống chỉ định phối hợp hai thuốc này, trong trường hợp bệnh tiểu đường không cân bằng hoặc cân bằng không tốt. Việc sử dụng diazoxyd thường chỉ thực hiện ở cơ sở chuyên khoa có khả năng theo dõi liên tục.
Estrogen hoặc thuốc ngừa thai estroprogestogen

Phân tích: Có thể có những biến động bất thường về glucose máu, do tính chất tăng glucose máu nhẹ của loại thuốc này; ghi nhận có sự giảm tác dụng của insulin.
Xử lý: Thông báo cho người bệnh về khả năng có biến động glucose máu. Hiệu chỉnh liều lượng insulin, theo đáp ứng sinh học.
Fibrat
Phân tích: Nguy cơ tăng tác dụng hạ glucose máu do đẩy thuốc chống tiểu đường khỏi các liên kết với protein huyết tương. Có khả năng tăng nửa đời của thuốc chống tiểu đường (đã được mô tả với clorpropamid), và giảm tính kháng insulin.
Xử lý: Phối hợp thuốc này đòi hỏi phải định lượng đều đặn glucose máu khi bắt đầu điều trị với thuốc chống tiểu đường hay fibrat, trong khi điều trị và khi ngừng điều trị bằng fibrat. Trình tự thời gian dùng thuốc là quan trọng để hiểu các biến động về glucose máu xảy ra, và để hiệu chỉnh liều lượng thuốc chống tiểu đường cho thích hợp. Nhắc nhở người bệnh tăng cường tự theo dõi bệnh.


Furosemid hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Các thuốc lợi tiểu quai có thể, trong một số hiếm trường hợp làm tăng glucose máu hoặc cản trở tác dụng hạ glucose máu của thuốc chống tiểu đường.
Xử lý: Khi khó cân bằng glucose máu, phải tính tới khả năng có tương tác này. Nhắc nhở người bệnh tăng cường tự theo dõi; hiệu chỉnh liều trong khi điều trị và khi ngừng điều trị với thuốc lợi tiểu quai.
Gluthetimid hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Aminogluthetimid tác dụng như một chất gây cảm ứng enzym có thể làm tăng chuyển hoá các sulfamid chống tiểu đường và làm cho điều trị chống tiểu đường mất cân bằng.
Xử lý: Hiệu chỉnh liều trong và sau khi điều trị với aminogluthetimid. Thông báo cho người bệnh cần tăng cường tự theo dõi khi phối hợp hai thuốc. Lập một kế hoạch dùng thuốc chính xác.
Guanethidin hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Guanethidin có thể làm tăng tác dụng của các thuốc hạ glucose máu bằng cách đẩy chúng ra khỏi liên kết với protein huyết tương.
Xử lý: Thông báo cho người bệnh để tăng cường tự theo dõi, và nếu cần, hiệu chỉnh liều lượng lúc bắt đầu và khi ngừng thuốc guanethidin dựa theo glucose máu.
Hormon tuyến giáp
Phân tích: Dùng hormon tuyến giáp có thể làm mất cân bằng trong điều trị bệnh tiểu đường do tăng nhu cầu insulin hay tăng nhu cầu thuốc hạ glucose máu.
Xử lý: Phối hợp thuốc này đòi hỏi phải hiệu chỉnh liều lượng. Thông báo cho người bệnh cần phải tăng cường tự theo dõi khi thay đổi liều lượng các hormon tuyến giáp.
Indometacin hoặc dẫn chất; salicylat; thuốc chống viêm không steroid
Phân tích: Các prostaglandin tham gia vào cơ chế điều hoà glucose máu, nên tăng nguy cơ hạ glucose máu.
Xử lý: Trong khi điều trị với các thuốc chống viêm có thể có biến động tạm thời glucose máu. Thông báo cho người bệnh để tăng cường tự theo dõi.
Octreotid
Phân tích: Dùng các thuốc chống tiểu đường trong khi đang điều trị với octreotid có thể gây hạ glucose máu hay tăng glucose máu.
Xử lý: Do cách sử dụng và chỉ định của octreotid, điều trị thường phải tiến hành ở cơ sở chuyên khoa. Với người bệnh tiểu đường được điều trị, cần theo dõi glucose máu cẩn thận và từ đó, hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp.
Phenicol
Phân tích: Tương tác đã được xác định rõ với tolbutamid và clorpropamid. Tác dụng chống tiểu đường tăng lên, có thể do cloramphenicol ức chế chuyển hoá ở gan. Các người bệnh đều ít nhiều nhạy cảm với phối hợp thuốc này, và hậu quả có thể ít nhiều quan trọng.
Xử lý: Có nguy cơ hạ glucose máu. Những biến động giữa các cá thể người bệnh bắt buộc bác sĩ phải theo dõi glucose máu và thông báo cho người bệnh cần tăng cường tự theo dõi.
Phenothiazin

Phân tích: Với liều cao (100 mg/ ngày), clorpromazin gây tăng glucose máu do giảm giải phóng insulin.
Xử lý: Hiệu chỉnh liều lượng lúc bắt đầu, trong khi điều trị và sau khi ngừng dùng clorpromazin. Thông báo cho người bệnh tăng cường tự theo dõi khi điều trị với clorpromazin.
Progestogen hoặc dẫn chất
Phân tích: Các dạng liều cao progestogen có tính chất gây tiểu đường và có thể đối kháng với các thuốc chống tiểu đường.
Xử lý: Thông báo cho người bệnh nguy cơ về những biến động glucose máu. Khuyên tăng cường tự theo dõi. Tùy theo kết quả, hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp lúc bắt đầu và sau khi điều trị với các chất progestogen. Lập một kế hoạch dùng thuốc đều đặn. Khi có vấn đề, khuyên người bệnh đi khám lại.
Rifampicin
Phân tích: Tương tác đã được mô tả với tolbutamid. Giảm nồng độ tolbutamid trong huyết tương do cảm ứng enzym trên cytochrom P450. Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Cần tăng liều tolbutamid. Tự theo dõi glucose máu thực hiện trong khi điều trị và sau khi ngừng thuốc.
Sotalol
Phân tích: Chất chẹn beta có thể che lấp những triệu chứng hạ glucose máu và làm tăng tác dụng của các sulfamid chống tiểu đường và của insulin trong bệnh tiểu đường. Điều này có thể dẫn tới hôn mê do hạ glucose máu mà không có dấu hiệu báo trước.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc này, phải thông báo cho người bệnh về nguy cơ có thể thấy những dấu hiệu hạ glucose máu (nhịp tim nhanh, toát mồ hôi, run, đánh trống ngực, cảm giác đói, lo âu...). Trong việc điều trị tăng huyết áp ở người tiểu đường, nên chọn các thuốc ức chế enzym chuyển dạng angiotensin.
Sulfasalazin hoặc dẫn chất
Phân tích: Sulfamid đẩy thuốc này khỏi những liên kết với protein huyết tương và/ hoặc ức chế dị hoá, làm tăng nửa đời và nồng độ thuốc đó trong huyết thanh.
Xử lý: Cần thiết phải hiệu chỉnh liều lượng trong khi và sau khi điều trị với sulfasalazin. Khuyên người bệnh tăng cường tự theo dõi bệnh tiểu đường, nếu cần.
Thuốc acid hoá nước tiểu
Phân tích: Việc dùng các thuốc acid hoá nước tiểu như amoni clorid, natri hay kali dihydrophosphat sẽ làm tăng sinh khả dụng của clorpropamid (Diabinese), nên tác dụng hạ glucose máu được tăng cường. Cơ chế là do khi pH của nước tiểu giảm, sự thanh lọc của clorpropamid qua chuyển hoá sẽ vượt trội sự thanh lọc qua thận.
Xử lý: Nếu người bệnh dùng kết hợp thuốc, phải theo dõi thường xuyên glucose máu. Nếu nồng độ glucose máu hạ nhiều, có thể phải giảm liều clorpropamid.
Thuốc chẹn beta
Phân tích: Thuốc chẹn beta (kể cả dạng thuốc nhỏ mắt) có thể che lấp các triệu chứng hạ glucose máu, và làm tăng tác dụng của các sulfamid hạ glucose máu trong bệnh tiểu đường. Điều này có thể dẫn tới hôn mê do hạ glucose máu không có dấu hiệu báo trước.
Xử lý: Nếu cần phối hợp, phải thông báo cho người bệnh chú ý đến những dấu hiệu hạ glucose máu có thể xuất hiện (nhịp tim nhanh, toát mồ hôi, run, hồi hộp, cảm giác đói, lo âu...). Trong điều trị tăng huyết áp, đối với người bệnh tiểu đường, nên chọn các thuốc ức chế enzym chuyển đổi.


Thuốc cường giao cảm beta
Phân tích: Giảm tác dụng của các thuốc chống tiểu đường nói chung do tính chất tăng glucose máu của các thuốc cường giao cảm beta (đặc biệt rõ với ephedrin).
Xử lý: Theo dõi chặt chẽ glucose máu, và thông báo cho người bệnh biết nguy cơ. Lập một kế hoạch dùng thuốc đều đặn.
Thuốc ức chế enzym chuyển dạng angiotensin
Phân tích: Tương tác đã được mô tả với captopril và enalapril. Hãn hữu phối hợp thuốc này có thể gây hạ glucose máu ở người bệnh tiểu đường điều trị bằng insulin hay bằng sulfamid chống tiểu đường.
Xử lý: Phối hợp này kinh điển, và chọn dùng các thuốc ức chế enzym chuyển dạng angiotensin cho người bệnh tiểu đường là thông thường. Hãn hữu có khó chịu do hạ glucose máu. Thông báo cho người bệnh để nếu cần, họ tự theo dõi glucose máu.

Tương tác cần theo dõi: mức độ 1

Desmopressin
Phân tích: Tác dụng chưa được sáng tỏ: giảm tác dụng chống lợi niệu khi phối hợp với glibenclamid, tăng tác dụng chống lợi tiểu khi phối hợp với clorpropamid.
Xử lý: Theo dõi lâm sàng và hiệu chỉnh liều lượng desmopressin theo các kết quả lâm sàng và sinh học.
Steroid đồng hoá alkyl hoá ở C17
Phân tích: Steroid đồng hoá có thể gây hạ glucose máu. Tương tác này đã được xác định với một số steroid đồng hoá.
Xử lý: Cần tăng cường theo dõi glucose máu, thông báo cho người bệnh
nguy cơ này (những dấu hiệu hạ glucose máu) và hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp.
Thuốc uống chống đông máu kháng vitamin K
Phân tích: Do liên kết mạnh với protein huyết tương, thuốc phối hợp có thể đẩy các thuốc kháng vitamin K ra khỏi liên kết với protein-huyết tương. Có nguy cơ chảy máu. Cũng nhận thấy tăng nguy cơ hạ glucose máu, có thể dẫn đến hôn mê do hạ glucose máu. Điều này đã được mô tả với các chất: dicoumarol và tolbutamid (Dolipol*); dicoumarol và clorpropamid (Diabinese*), acenocoumarol (Sintrom*) và clorpropamid (Diabinese*) warfarin (Coumadine*) và glibenclamid (Daonil).
Xử lý: Theo dõi tỉ lệ prothrombin và tỉ lệ chuẩn hoá quốc tế - INR, và hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp lúc bắt đầu, trong khi điều trị và trong vòng 8 ngày sau khi ngừng thuốc.

EBOOK TƯƠNG TÁC THUỐC - BỘ Y TẾ

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH ĐỂ SỬ DỤNG CHO TỐT
KHÁI NIỆM VỀ TƯƠNG TÁC THUỐC
ACAMPROSAT
ACETORPHAN
ACICLOVIR
ACID ASCORBIC
ACID CHENODESOXYCHOLIC HOẶC DẪN CHẤT
ACID CROMOGLYCIC HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
ACID FOLIC HOẶC DẪN CHẤT
ACID FUSIDIC
ACID HOÁ NƯỚC TIỂU ( CÁC CHẤT)
ACTINOMYCIN D
ALOPURIOL HOẶC DẪN CHẤT
ALPROSTADIL
AMANTADIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
AMINEPTIN
AMINOGLYCOSID (NHÓM KHÁNG SINH)
AMIOGLYCOSID ĐƯỜNG UỐNG
AMIODARON
AMPHETAMIN HOẶC DẪN CHẤT
AMPHOTERICIN B
ANTIMON (Hợp chất)
APOMORPHIN
ASPARAGINASE
AZATHIOPRIN
BEPRIDIL
BETAHISTIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
BIGUANID
BIPHOSPHONAT
BRETYLIUM
BROMOCRIPTIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
BUSPIRON
BUTYROPHENON (dẫn chất)
CÁC THUỐC LOẠI CURA
CAFEIN
CALCI (muối)
CALCITONIN
CARBAMAT HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CARBAMAZEPIN
CARMUSTIN
BENZOYL PEROXYD
BENZYL BENZOAT
BENZOFURAN (dẫn chất)
BENZODIAZEPIN (dẫn chất)
BENZIMIDAZOL (dẫn chất)
BENZAMID (dẫn chất)
BARBITURIC (dẫn chất)
BACLOFEN
CEPHALOSPORIN CÓ NHÂN THIOMETHYLTETRAZOL
CEPHALOSPORIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CHOLESTYRAMIN
CHOLINERGIC
CICLOSPORIN
CIMETIDIN
CISAPRID
CISPLATIN HOẶC DẪN CHẤT
CITALOPRAM
CLONIDIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CLORHEXIDIN
CLOZAPIN
COLCHICIN HOẶC DẪN CHẤT
CORTICOID - KHOÁNG
CAROTENOID
CYCLOPHOSPHAMID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CYCLOSERIN
DANAZOL
DANTROLEN
DAPSON
DEFEROXAMIN
DESMOPRESSIN
DEXTRAN
DEXTROPROPOXYPHEN
DIACERHEIN
DIAZOXID
DIDANOSIN
DIHYDROPYRIDIN (dẫn chất)
DILTIAZEM
DIPYRIDAMOL
DISOPYRAMID
DISULFIRAM
DOXAPRAM
DOXORUBICIN HOẶC DẪN CHẤT
Độc tố CLOSTRIDIUM BOTULINUM
DỤNG CỤ TRÁNH THAI
ERGOTAMIN HOẶC DẪN CHẤT
ESTROGEN HOẶC THUỐC NGỪA THAI ESTROPROGESTOGEN
ETHAMBUTOL
ETHOSUXIMID
ETRETINAT (dẫn chất)
EUCALYPTOL
FENOVERIN
FIBRAT
FINASTERID
FLAVOXAT
FLECAINID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
FLOCTAFENIN
FLUCYTOSIN
FLUMAZENIL
FLUOR (Dẫn chất)
FLUORO-5-URACIL
FLUOXETIN
FLUVOXAMIN
FOSCARNET
FOSFOMYCIN
FUROSEMID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
FUSAFUNGIN
GANCICLOVIR
GLUCAGON
GLUCOCORTICOID
GLUTETHIMID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
GLYCOSID TRỢ TIM
GONADOTROPHIN NHAU THAI
GONADOTROPHIN CÓ HOẠT TÍNH FSH
GRISEOFULVIN
GUANETHIDIN
HALOFANTRIN
HEPARIN HOẶC CÁC DẠNG PHÂN TỬ THẤP
HEPARIN TỔNG HỢP
HEPTAMINOL
HISTAMIN HOẶC DẪN CHẤT
HORMON CHỐNG LỢI TIỂU HOẶC DẪN CHẤT
HORMON TĂNG TRƯỞNG HOẶC DẪN CHẤT
HORMON TUYẾN GIÁP
HUYẾT THANH KHÁC LOẠI ĐẶC HIỆU
HYDROXYQUINOLEIN (Dẫn chất)
IDOXURIDIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
IDROCILAMID
IMMUNOGLOBULIN KHÁNG TẾ BÀO LYMPHO
IMMUNOGLOBULIN NGƯỜI
INDINAVIR
INDOMETACIN HOẶC DẪN CHẤT
INSULIN
INTERFERON ALPHA TÁI TỔ HỢP
INTERLEUKIN 2 TÁI TỔ HỢP
ISONIAZID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
KALI (muối)
KHÁNG SINH POLYPEPTID
LAMIVUDIN
LANSOPRAZOL
LEVODOPA
LIDOCAIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
LINCOSAMID
LIPID (nhũ dịch tiêm truyền)
LITHI (muối)
LOPERAMID
LỢI TIỂU GIỮ KALI
LỢI TIỂU THẢI KALI
LỢI TIỂU THẨM THẤU
LƯU HUỲNH
MACROLID
MAGNESI (muối)
MEDIFOXAMIN
MELPHALAN
MERCAPTOPURIN
METHADON
METHENAMIN
METHOTREXAT
METHYLDOPA
METHYSERGID
MEXILETIN
MIANSERIN
MIFEPRISTON
MODAFINIL
MOLSIDOMIN
MUROMONAB CD3
NAFTIDROFURYL
NATRI VALPROAT HOẶC DẪN CHẤT
NELFINAVIR
NHỰA TRAO ĐỔI CATION
NICORANDIL
NICOTIN
NILUTAMID
NIRIDAZOL
NITROFURAN
NITROIMIDAZOL HOẶC DẪN CHẤT
NITROXOLIN
OCTREOTÍD HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
OMEPRAZOL
OXAFLOZAN
OXITRIPTAN
OXYTOCIN
PAPAVERIN HOẶC DẪN CHẤT
PARACETAMOL
PAROXETIN
PENICILAMIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
PENICILIN
PENTAGASTRIN
PENTAMIDIN
PENTOSTATIN
PENTOXYFYLIN
PHENAZON
PHENICOL
PHENOTHIAZIN
PHENYTOIN
PHOSPHO HOẶC PHOSPHAT
PINAVERIUM BROMID
PIPERAZIN
PIRIBEDIL
PRALIDOXIM
PRAZIQUANTEL
PRIMIDON
PROBENECID
PROCARBAZIN
PROGABID
PROGESTOGEN HOẶC DẪN CHẤT
PROPAFENON
PROSTAGLANDIN CHỐNG LOÉT
PROSTAGLANDIN TRONG PHỤ KHOA
PROTAMIN
PYRANTEL HOẶC DẪN CHẤT
PYRAZINAMID
PYRAZOL HOẶC DẪN CHẤT
PYRETHRIN HOẶC DẪN CHẤT
PYRIDOXIN
PYRIMETHAMIN
QUINIDIN HOẶC DẪN CHẤT
QUININ HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
QUINOLON
RANITIDIN
RIFABUTIN
RIFAMPICIN
RITONAVIR
RƯỢU
SALICYLAT (dẫn chất)
SAQUINAVIR
SERMORELIN
SOTALOL
SPARFLOXACIN
SULFAMID CHỐNG TIỂU ĐƯỜNG
SUCRALFAT
SUCCINIMID
STEROID GÂY ĐỒNG HOÁ, ALKYL HOÁ Ở C17
SULFAMID KHÁNG KHUẨN
SULFASALAZIN
SUMATRIPTAN
SYNERGISTIN
TACRIN
TACROLIMUS
TAMOXIFEN
TEICOPLANIN
TERBINAFIN
TETRACOSACTID
TETRACYCLIN
THEOPHYLIN HOẶC DẪN CHẤT
THIOTEPA
THUỐC AN THẦN KINH CÁC LOẠI
THUỐC BẢO VỆ CHỐNG ÁNH SÁNG
THUỐC CẢM ỨNG GÂY RỤNG TRỨNG LOẠI CLOMIFEN
Thuốc cầm máu
Thuốc chẹn alpha
Thuốc chẹn Alpha - Beta
Thuốc chẹn beta
Thuốc chống đau thắt ngực nitrat
Thuốc uống chống đông máu kháng vitamin K
Thuốc chống hen
Thuốc chống ho không opi
Thuốc chống nấm dẫn xuất imidazol
Thuốc chống nấm khác
Thuốc chống sốt rét
Thuốc chống suy nhược kích thích tâm thần
Thuốc chống tăng huyết áp loại liệt hạch
Thuốc ức chế tiêu fibrin
Thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc thuốc tương tự
Thuốc chống ung thư các loại
Thuốc chống vẩy nến dùng tại chỗ
Thuốc chống viêm không steroid
Thuốc chủ vận của morphin
Thuốc vừa chủ vận vừa đối kháng với morphin
Thuốc cường giao cảm alpha và beta
Thuốc cường thần kinh giao cảm beta
Các thuốc trong nhóm
Thuốc diện hoạt tổng hợp tác dụng ở phổi
Thuốc đối kháng morphin
Thuốc đối kháng thụ thể HT3
Thuốc đối quang có baryt
Thuốc đối quang có iod
Thuốc gây mẫn cảm ánh sáng
Thuốc gây xơ cứng tĩnh mạch
Thuốc giãn mạch chống tăng huyết áp
Thuốc hạ lipid máu các loại
Thuốc kháng acid uống, thuốc bao niêm mạc và hấp phụ
Thuốc kháng cholinergic
Thuốc kháng giáp tổng hợp
Thuốc kháng histamin kháng H1 có tác dụng an thần gây buồn ngủ
Thuốc kháng histamin kháng H1 không an thần
Thuốc kiềm hoá nước tiểu
Thuốc làm tan huyết khối
Thuốc làm thay đổi chất nhầy phế quản
THUỐC GÂY MÊ BARBITURIC
THUỐC GÂY MÊ VÀ TIỀN MÊ
THUỐC GÂY MÊ BAY HƠI CHỨA HALOGEN
THUỐC NHUẬN TRÀNG KÍCH THÍCH
THUỐC NHUẬN TRÀNG LÀM MỀM
THUỐC NHUẬN TRÀNG LÀM TRƠN
THUỐC NHUẬN TRÀNG NHẦY VÀ THẨM THẤU
THUỐC NGỪA THAI DIỆT TINH TRÙNG
THUỐC SÁT KHUẨN DẪN CHẤT AMONI BẬC BỐN
THUỐC SÁT KHUẨN CÓ IOD
THUỐC SÁT KHUẨN MUỐI KIM LOẠI
THUỐC SÁT KHUẨN CÓ THUỶ NGÂN
THUỐC SÁT KHUẨN KHÁC
THUỐC SẮT DÙNG TRONG ĐIỀU TRỊ
THUỐC TĂNG ÔXY NÃO
THUỐC TIÊU LỚP SỪNG
CÁC THUỐC TRỢ ĐẺ, DẪN CHẤT CỦA NẤM CỰA GÀ
THUỐC TRỢ HÔ HẤP
THUỐC TRỢ TIM BUPYRIDINIC
THUỐC TRỪ SÂU CLOR HỮU CƠ
THUỐC ỨC CHẾ ENZYM CHUYỂN DẠNG ANGIOTENSIN
THUỐC ỨC CHẾ HMG-COA REDUCTASE (CÁC STATIN)
THUỐC ỨC CHẾ MAO typ A
THUỐC ỨC CHẾ MAO typ b
THUỐC ỨC CHẾ MAO KHÔNG CHỌN LỌC
THUỐC ỨC CHẾ HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG – CÁC LOẠI
TICLOPIDIN
TRH (hormon giải phóng hormon kích thích tuyến giáp, THYROTROPHINE RELEASING HORMONE)
TRIMEBUTIN
TRIMETHOPRIM
VACCIN SỐNG GIẢM ĐỘC LỰC
VANCOMYCIN
Liệu pháp vàng chống thấp khớp
VERAPAMIL
VIDARABIN
VIGABATRIN
VILOXAZIN
VINCAMIN
Vincristin hoặc thuốc tương tự
VITAMIN A
VITAMIN B12
VITAMIN NHÓM B
VITAMIN NHÓM D
Yếu tố tăng trưởng bạch cầu hạt
Yếu tố tăng trưởng hồng cầu
ZALCITABIN
ZIDOVUDIN