RƯỢU LÀ GÌ , CÔNG DỤNG, CÁCH PHỐI HỢP , TƯƠNG TÁC, CHÚ Ý SỬ DỤNG


Rượu ethylic dùng ở đây không phải là một hoạt chất, mà chỉ là một tá dược của thuốc (thí dụ rượu thuốc). Nếu cần nêu ra những tương tác giữa thuốc với rượu,
thì tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương lại có thể là quan trọng

CÁC THUỐC TRONG NHÓM

Các loại rượu thuốc
Bách tuế tửu
Nhân sâm dược tửu
Rượu bát trân đại bổ
Rượu bổ linh chi sâm
Rượu bổ sâm dưỡng huyết
Rượu bổ sâm quy
Rượu bổ sâm thục
Rượu cao khỉ
Rượu cao xương
Rượu đương quy bổ huyết đặc chế
Rượu hải mã
Rượu ngũ gia bì
Rượu nhân sâm
Rượu phong tê thấp
Rượu phong thấp A
Rượu rắn
Rượu rắn Hải Phòng
Rượu tắc kè
Rượu tắc kè I và II
Rượu thập toàn đại bổ
Rượu trường thọ
Sâm nhung kiện lực tửu

Xuân xuân ẩm. v.v...
TƯƠNG TÁC THUỐC

Cân nhắc nguy cơ/ lợi ích: mức độ 3

Amantadin hoặc thuốc tương tự; barbituric; benzamid; benzodiazepin; butyrophenon; các thuốc an thần; carbamat hoặc thuốc tương tự; carbamazepin; dantrolen; dextropropoxyphen; fluoxetin; fluvoxamin; gluthetimid hoặc thuốc tương tự; interferon alpha tái tổ hợp; medifoxamin; methyldopa; mianserin; oxaflozan; phenothiazin; primidon hoặc dẫn chất; thuốc chống động kinh không phải barbituric; thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc thuốc tương tự; thuốc kháng histamin kháng H1 có tác dụng an thần; thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương khác
Phân tích: Tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, kéo theo tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ. Với một số thuốc có thể thấy một số tác dụng tâm thần - vận động, đặc biệt trong tuần lễ điều trị đầu tiên. Tương tác dược lực.
Xử lý: Không nên phối hợp với các thuốc có rượu và chú ý là người kê đơn không kiểm soát được việc uống rượu của người bệnh. Nguy cơ tác dụng an thần đặc biệt nguy hiểm với người lái xe hay người đứng máy. Khuyên không nên uống rượu cùng với các thuốc ghi trong đơn, cũng như không dùng thêm thuốc hoặc đồ uống có rượu.
Biguanid
Phân tích: Rượu tạo thuận lợi cho các thuốc chống tiểu đường gây hạ glucose  máu qua một cơ chế chưa biết rõ. Có thể sự tân tạo glycogen ở gan bị ức chế do rượu. Ngoài ra, với clorpropamid (Diabinese*) và ở mức độ ít hơn với tolbutamid (Dolipol) người ta thấy mặt ửng đỏ và phản ứng này được coi là tác dụng antabuse, do tăng nồng độ acetaldehyd trong máu. Thêm nữa, với chất metformin, thấy tăng nguy cơ nhiễm acid lactic khi nhiễm độc rượu, nhất là khi đói, suy dinh dưỡng, hoặc thiểu năng tế bào gan.
Xử lý: Hạn chế một số người bệnh uống rượu thường là việc khó. Phải cảnh báo cho họ về nguy cơ hạ glucose máu gia tăng, nên cần rất hạn chế uống rượu. Đặc biệt phải tránh uống rượu lúc đói. Nếu đã biết người bệnh
nghiện rượu, tránh ghi đơn clorpropamid (Diabinese*) và chọn một sulfonylurê khác.
Các chất chẹn alpha – 1 adrenergic
Phân tích: Nguy cơ hạ huyết áp tăng lên, đặc biệt ở người thiếu hụt aldehyd dehydrogenase (có thể nhận biết những người này ở hiện tượng đỏ mặt ngay khi uống một ít rượu). Có ý kiến giải thích là khi hệ thần kinh giao cảm bị các chất chẹn alpha adrenergic ức chế, thì tác dụng của rượu gây nên hạ huyết áp sẽ tăng lên.
Xử lý: Phải cảnh báo những người dùng các chất chẹn alpha -1 adrenergic không được uống rượu, đặc biệt đối với những người dễ đỏ mặt khi uống rượu.
Cephalosporin có nhân thiomethyltetrazol (cefamandol,  cefmenoxin, cefoperazon, cefonicid, cefotetan, ceforanid,  latamoxef, moxalactam...)
Phân tích: Tác dụng antabuse (kiểu disulfiram), cộng thêm nguy cơ độc với gan. Một hàm lượng bất thường acetaldehyd tích luỹ trong các mô (ức chế enzym) kéo theo một số dấu hiệu lâm sàng, như cơn vận mạch, giãn mạch mạnh, nhịp tim nhanh, nhiệt độ cao, buồn nôn, nôn, ban đỏ ngoài da, đôi khi hạ huyết áp và trụy tim mạch. Các triệu chứng này có thể nặng, nhẹ tùy thuộc lượng rượu uống vào nhiều hay ít. Nguy cơ tác dụng antabuse chỉ thể hiện với cefamandol, latamoxef, cefoperazon và cefmenoxin, do phân tử các chất trên có nhân tetrazol. Tác dụng này xảy ra khi uống rượu sau khi điều trị bằng cephalosporin. Tác dụng có thể xảy ra ngay hoặc có thể sau 5 ngày.
Xử lý: Khi điều trị bằng thuốc này, tránh dùng rượu, do có tác dụng antabuse.
Chất chủ vận của morphin
Phân tích: Tăng ức chế thần kinh trung ương (tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ) ức chế hô hấp và hạ huyết áp.
Xử lý: Với người bệnh nghiện rượu phải giảm liều thuốc loại morphin. Chú ý trường hợp ngoại trú, đối với người lái xe hay người đứng máy. Khi kê đơn một chất ức chế hệ thần kinh trung ương, khuyên người bệnh trong thời gian điều trị không uống rượu, không dùng thêm thuốc hoặc đồ uống có rượu.
Citalopram

Phân tích: Tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ của chất ức chế tái thu hồi serotonin.
Xử lý: Tránh kết hợp với các thuốc có rượu và chú ý người kê đơn không đảm bảo được là người bệnh không uống rượu. Nguy cơ an thần gây buồn ngủ đặc biệt nghiêm trọng đối với người lái xe hoặc đứng máy.
Clonidin hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, kéo theo tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ. Một số thuốc trong nhóm clonidin, đặc biệt trong tuần đầu điều trị ta thấy một số tác dụng tâm thần vận động. Đây là tương tác dược lực. Rilmenidin dùng với liều thông thường, thì rượu và thuốc chứa rượu không làm tăng những tác dụng ức chế trên hệ thần kinh trung ương của các thuốc này.
Xử lý: Tốt hơn hết là không kết hợp với các thuốc có rượu và chú ý người kê đơn không phải lúc nào cũng có thể đảm bảo là người bệnh không uống rượu. Nguy cơ tác dụng an thần đặc biệt nguy hiểm với người lái xe và người đứng máy.
Disulfiram
Phân tích: Tác dụng disulfiram (antabuse) cộng thêm nguy cơ độc với gan. Khi người bệnh dùng đồng thời rượu và disulfiram, một lượng lớn bất thường acetaldehyd sẽ tích luỹ trong mô (ức chế enzym), kéo theo một số dấu hiệu lâm sàng, như các cơn bốc vận mạch (mặt đỏ bừng), giãn mạch mạnh, nhịp tim nhanh, nhiệt độ cao, buồn nôn, nôn, ban đỏ ngoài da, đôi khi hạ huyết áp và trụy tim mạch. Những triệu chứng này nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào lượng rượu uống vào nhiều hay ít. Tác dụng antabuse được dùng để điều trị nghiện rượu, trong những đợt điều trị giải độc.
Xử lý: Trong quá trình điều trị bằng chất này, khuyên người bệnh không nên uống rượu, do tác dụng disulfiram. Cần chú ý đến tất cả các chế phẩm hay các thuốc có chứa rượu.
Furazolidon
Phân tích: Có tác dụng kiểu disulfiram (đỏ mặt, viêm kết mạc, chảy nước mắt, suy nhược khi uống rượu sau khi đã dùng furazolidon). Cơ chế là furazolidon ức chế enzym chuyển hoá acetaldehyd thành acetat.
Xử lý: Nhắc nhở người bệnh không được uống rượu.
Griseofulvin; nitrofuran; phenicol; procarbazin
Phân tích: Tác dụng antabuse (kiểu disulfiram) cộng thêm nguy cơ độc với gan. Một lượng acetaldehyd bất thường tích lũy ở mô (ức chế enzym) kéo theo một số dấu hiệu lâm sàng, như mặt đỏ bừng, giãn mạch mạnh, tim đập nhanh, nhiệt độ cao, buồn nôn, nôn, ban đỏ ngoài da, đôi khi hạ huyết áp và trụy tim mạch. Các triệu chứng này nặng nhẹ tùy thuộc lượng rượu uống vào nhiều hay ít.
Xử lý: Trong thời gian điều trị bằng chất này, khuyên người bệnh không dùng rượu do tác dụng antabuse. Chú ý đến tất cả các chế phẩm hoặc các thuốc có chứa rượu.
Guanethidin hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Tăng nguy cơ hạ huyết áp tư thế đứng.
Xử lý: Thông báo cho người bệnh, đặc biệt với người bệnh cao tuổi; khuyên họ không uống rượu.
Insulin
Phân tích: Rượu thuận lợi cho các thuốc chống tiểu đường gây hạ glucose máu theo một cơ chế chưa hoàn toàn biết rõ. Có thể việc tân tạo glycogen ở gan bị rượu ức chế.
Xử lý: Đối với một số người bệnh, rất khó khuyên họ hạn chế uống rượu. Cho nên phải cho họ biết có tăng nguy cơ hạ glucose máu, và phải hạn chế tối đa uống rượu. Tránh uống rượu lúc đói.
Methadon
Phân tích: Tăng tác dụng an thần của rượu do tăng thêm tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương.
Xử lý: Tránh ghi đơn các thuốc mà tá dược là rượu. Khuyên người bệnh tránh uống rượu trong khi điều trị cai nghiện, nhất là đối với người lái xe hay điều khiển máy.
Nitrat chống đau thắt ngực
Phân tích: Nguy cơ tăng tác dụng hạ huyết áp do cộng thêm tác dụng giãn mạch. Tác dụng đặc biệt quan trọng khi dùng thuốc một giờ trước khi uống rượu.
Xử lý: Phải tránh phối hợp này, vì gây phiền toái cho người bệnh. Yêu cầu người bệnh tránh uống rượu trong thời gian điều trị. Tránh tự dùng những thuốc hay đồ uống có chứa rượu.
Nitroimidazol
Phân tích: Hiệu ứng antabuse với những nitroimidazol như metronidazol (Flagyl*) secnidazol (Flagentyl*), ornidazol (Tiberal*, Ornidazol*), tinidazol (Fasigyne*). Antabuse (disulfiram ) sẽ tác động đến cơ chế chuyển hoá của rượu. Một lượng bất thường acetaldehyd sẽ tích luỹ ở các mô (ức chế enzym) kéo theo một số dấu hiệu lâm sàng, như các cơn vận mạch (mặt đỏ bừng), giãn mạch mạnh, nhịp tim nhanh, tăng nhiệt độ, buồn nôn, nôn, ban đỏ ngoài da, đôi khi hạ huyết áp và trụy tim mạch. Những triệu chứng này nặng hoặc nhẹ là tuỳ thuộc lượng rượu uống vào nhiều hay ít.
Xử lý: Trong khi điều trị với thuốc này, khuyên người bệnh không uống rượu hoặc thuốc có tá dược là rượu do hiệu ứng antabuse.
Phenytoin
Phân tích: Giảm nồng độ phenytoin trong huyết thanh do cảm ứng enzym. Phải theo dõi chặt chẽ những người nghiện rượu (có nguy cơ giảm tác dụng chống co giật). Trong cơn say rượu cấp tính, nồng độ phenytoin trong huyết thanh lại tăng.
Xử lý: Tốt hơn hết không nên kết hợp với các thuốc có rượu vì không đảm bảo là người bệnh không uống rượu. Nguy cơ an thần gây buồn ngủ đặc biệt nguy hiểm đối với người lái xe và người đứng máy.
Sulfamid hạ glucose máu
Phân tích: Rượu tạo thuận lợi cho các thuốc chống tiểu đường gây hạ glucose máu theo một cơ chế chưa hiểu rõ hoàn toàn. Có thể vì sự tân tạo glycogen ở gan bị ức chế do rượu. Thêm vào đó, hiệu ứng antabuse (kiểu disulfiram) với clorpropamid (Diabinese*), và ở mức độ ít hơn với tolbutamid (Dolipol*), glibenclamid (Daonil*, Euglucan*), glipizid (Glibenese*, Minidiab*), do có tác động đến chuyển hoá của rượu. Một lượng bất thường acetaldehyd sẽ tích lũy ở mô (ức chế enzym) gây ra một số dấu hiệu lâm sàng như: cơn vận mạch (mặt đỏ bừng), giãn mạch mạnh, tim đập nhanh, tăng nhiệt độ, buồn nôn, nôn, ban đỏ ngoài da, đôi khi hạ huyết áp và trụy tim mạch. Các triệu chứng này nặng hay nhẹ là tuỳ theo lượng rượu uống vào nhiều hay ít.
Xử lý: Đối với một số người bệnh, luôn luôn có khó khăn trong việc khuyên họ giảm uống rượu. Cần phải nhắc họ cảnh giác với nguy cơ hạ glucose máu sẽ tăng lên và nên uống rượu càng ít càng tốt. Đặc biệt cần tránh uống rượu lúc đói. Nếu đã biết người bệnh nghiện rượu, tránh không ghi đơn chlorpropamid (Diabinese*) và chọn một sulfonylurê khác.
Tacrin
Phân tích: Nguy cơ tăng độc tính với gan
Xử lý: Nếu cần, tăng cường theo dõi gan. Tốt nhất tránh các kết hợp thuốc có nhiều nguy cơ đối với người bệnh cao tuổi.
Thuốc chống nấm dẫn xuất imidazol
Phân tích: Tác dụng antabuse (kiểu disulfiram), cộng thêm nguy cơ độc tính với gan. Một hàm lượng bất thường acetaldehyd tích luỹ trong mô (ức chế enzym), kéo theo một số dấu hiệu lâm sàng, như cơn vận mạch, giãn mạch mạnh, tim nhanh, nhiệt độ cao, buồn nôn, nôn, ban đỏ ngoài da, đôi khi hạ huyết áp và trụy tim mạch. Các triệu chứng này quan trọng ít hay nhiều là tùy lượng rượu uống vào. Ngoài ra với một vài dẫn chất của imidazol chống nấm (ketoconazol), nguy cơ độc với gan tăng cao.
Xử lý: Theo dõi rất chặt chẽ chức năng gan, đặc biệt khi kê đơn ketoconazol. Yêu cầu người bệnh tránh uống rượu trong suốt thời gian điều trị với thuốc chống nấm.
Thuốc ức chế MAO không chọn lọc
Phân tích: Tác dụng hiệp đồng ức chế hệ thần kinh trung ương. Chú ý trường hợp ngoại trú, đối với người lái xe và người đứng máy. Phải theo dõi.
Xử lý: Tốt nhất, không nên phối hợp với các thuốc có rượu và chú ý không phải trường hợp nào người kê đơn cũng can ngăn được người bệnh uống rượu. Nguy cơ an thần gây buồn ngủ đặc biệt nguy hiểm với người lái xe và người đứng máy.
Viloxazin
Phân tích: Tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương (tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ), tác dụng ức chế hô hấp và hạ huyết áp.
Xử lý: Đối với người bệnh nghiện rượu, phải giảm liều thuốc chống trầm cảm viloxazin. Chú ý trường hợp ngoại trú, đối với người lái xe và người đứng máy. Khi ghi đơn một thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương, khuyên người bệnh tránh uống rượu, không dùng các chế phẩm có rượu.

Tương tác cần thận trọng: mức độ 2

Baclofen; clozapin; natri valproat hoặc dẫn chất
Phân tích: Tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, kèm theo tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ. Tương tác dược lực.
Xử lý: Nếu phải kết hợp thuốc, phải tính đến nguy cơ nói trên khi xác định liều lượng của hai thuốc. Phải nghĩ đến giảm tỉnh táo ở người lái xe và người đứng máy. Khuyên người bệnh không uống rượu, không dùng thêm thuốc hoặc đồ uống có chứa rượu.
Buspiron
Phân tích: Tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, kéo theo tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ. Với một vài thuốc loại buspiron, nhất là trong tuần đầu điều trị, ta thấy một số tác dụng tâm thần vận động. Tương tác dược lực.
Xử lý: Tốt nhất là không nên kết hợp với các thuốc có rượu vì không chắc người bệnh không uống rượu. Nguy cơ an thần gây buồn ngủ đặc biệt nguy hiểm đối với người lái xe và người đứng máy.
Cisaprid
Phân tích: Tăng tốc độ hấp thu rượu, do đó nguy cơ tăng ức chế hệ thần kinh trung ương (an thần).
Xử lý: Khuyên người bệnh không uống rượu suốt thời gian điều trị bằng cisaprid, đặc biệt với người lái xe và người đứng máy do bị giảm tỉnh táo. Chú ý tới những thuốc khuyên dùng hoặc người bệnh tự ý dùng, xem có chứa rượu không.
Colchicin hoặc dẫn chất
Phân tích: Tăng độc tính với dạ dày- ruột, đặc biệt ở người nghiện rượu. Rượu làm tăng nồng độ acid uric trong máu, và do đó, có thể làm giảm tác dụng điều trị bệnh thống phong (gút).
Xử lý: Về chế độ dinh dưỡng, khuyên người bệnh thống phong (gút) tránh uống rượu trong thời gian điều trị.
Didanosin
Phân tích: Hiệp đồng các tác dụng không mong muốn: tăng nguy cơ viêm tụy do thuốc.
Xử lý: Theo dõi lâm sàng, và nếu cần, theo dõi sinh học về chức năng tụy (amylase trong máu và trong nước tiểu).
Etretinat hay dẫn chất
Phân tích: Các thuốc này, riêng từng thuốc đã gây tăng triglycerid máu.
Xử lý: Phải chắc chắn rằng người bệnh không uống rượu. Khuyên người bệnh không uống rượu trong suốt thời gian điều trị. Phải theo dõi chặt chẽ hàm lượng triglycerid trong máu, nếu có nghi ngờ.
Isoniazid hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Người nghiện rượu chuyển hoá isoniazid nhanh hơn, dẫn tới giảm hiệu quả của thuốc. Ngoài ra, còn có hiệu ứng antabuse thêm vào nguy cơ độc với gan.
Xử lý: Khi phối hợp hai thuốc độc với gan, cần theo dõi chặt chẽ chức năng gan (ASAT, ALAT, phosphatase kiềm, bilirubin) hoặc nếu có thể hoãn lại một trong hai thứ thuốc. Phải chắc chắn người bệnh không thường xuyên uống rượu, và không có tiền sử viêm gan virus. Những triệu chứng lâm sàng chính không đặc hiệu là buồn nôn, sốt, vàng da. Nếu thấy ban đỏ ngoài da, ngứa, hạch to… thì có nhiều khả năng do thuốc. Dùng kết quả các test sinh học, phân biệt đúng nguy cơ viêm gan tiêu tế bào không hồi phục với nguy cơ viêm gan tắc mật hồi phục được sau khi ngừng điều trị.
Methotrexat
Phân tích: Tăng nguy cơ xơ hoá gan vì là hai chất độc với gan.
Xử lý: Phải tính đến mục đích điều trị. Khi bắt đầu điều trị, thường ở bệnh viện, người bệnh không được phép uống rượu nữa. Nếu tiếp tục điều trị ở nhà, yêu cầu người bệnh không được uống rượu.
Nicorandil

Phân tích: Phối hợp với mọi thuốc chống tăng huyết áp có thể làm tăng nguy cơ hạ huyết áp, đôi khi dẫn đến sốc.
Xử lý: Theo dõi huyết áp trong khi điều trị phối hợp hai thuốc và khi ngừng dùng một thuốc. Cần đặc biệt chú ý điều này ở người bệnh cao tuổi.
Paracetamol
Phân tích: Tăng tạo thành các chất chuyển hoá độc với gan của paracetamol do cảm ứng enzym của rượu khi người bệnh nghiện rượu.
Xử lý: Tránh kéo dài việc dùng paracetamol ở người bệnh nghiện rượu. Giảm liều thuốc giảm đau, và nếu cần, thay bằng một thuốc giảm đau khác.
Paroxetin
Phân tích: Tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, kéo theo tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ. Tương tác dược lực.
Xử lý: Phải nghĩ đến giảm tỉnh táo ở người lái xe và người đứng máy. Khuyên không uống rượu và không dùng các chế phẩm có rượu.
Reserpin
Phân tích: Tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, kéo theo tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ. Tương tác dược lực.
Xử lý: Phải nghĩ đến giảm tỉnh táo ở người lái xe và người đứng máy. Khuyên không uống rượu và không dùng chế phẩm có rượu.
Salicylat
Phân tích: Dùng phối hợp hai chất kích ứng niêm mạc đường tiêu hoá một cách thường xuyên có thể gây chảy máu đường tiêu hoá.
Thuốc chống loét kháng H2 loại cimetidin
Phân tích: Cimetidin ức chế enzym oxydase của gan (cytochrom P450) xúc tác chuyển hoá một số thuốc. Ngoài ra, nó còn làm giảm lưu lượng máu ở gan. Do đó, nồng độ trong máu của một số thuốc sẽ tăng (nguy cơ quá liều) và ngoài ra, do ức chế một số chuyển hoá sinh học, nên cimetidin phong bế một số cơ chế giải độc. Có nguy cơ tăng nồng độ đỉnh của rượu trong huyết tương, do đó tăng tác dụng gây say. Tương tác này còn đang tranh cãi.
Xử lý: Thông báo tương tác này để các cán bộ y tế có ý thức về vấn đề này và khi cần, có thể chuyển các nhận xét nguy cơ này về Trung tâm cảnh giác dược.
Thuốc gây mê bay hơi chứa halogen
Phân tích: Với người nhiễm độc rượu (say rượu) cấp tính (người bệnh cấp cứu): tăng cường tác dụng gây ngủ do ức chế enzym. Với người nghiện rượu (nhiễm độc rượu mạn tính): đối kháng với tác dụng gây ngủ do cảm ứng enzym, nên đòi hỏi tăng liều thuốc gây mê.
Xử lý: Khi phải phẫu thuật, khuyên người bệnh thông báo cho bác sĩ gây mê tất cả những thuốc đã dùng.
Thuốc giãn mạch chống tăng huyết áp
Phân tích: Tăng cường tác dụng chống tăng huyết áp.
Xử lý: Cần phải hiệu chỉnh liều lượng. Lập một kế hoạch dùng thuốc và nhắc nhở người bệnh phải tuân thủ kế hoạch điều trị. Trong thời gian đầu đợt điều trị, nhắc nhở người bệnh đo (hoặc nhờ người đo) huyết áp thường xuyên cho đến khi đạt tới cân bằng trong điều trị.

Tương tác cần theo dõi: mức độ 1

Thuốc gây mê barbituric
Phân tích: Nguy cơ tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương.
Xử lý: Nếu cần phối hợp với các thuốc có rượu, phải tính đến nguy cơ này khi gây mê và khi quyết định liều lượng.
Thuốc uống chống đông máu kháng vitamin K
Phân tích: Khi uống lượng lớn rượu sẽ có tác dụng như một chất ức chế enzym, do đó có thể ức chế sự chuyển hoá sinh học của thuốc chống đông máu, dẫn đến làm tăng tác dụng của thuốc chống đông máu. Rượu uống thường xuyên, lại có tính chất cảm ứng enzym, và do đó làm tăng sự
chuyển hoá sinh học của thuốc chống đông máu, dẫn đến làm giảm tác dụng của thuốc.
Xử lý: Điều trị người bệnh nghiện rượu bằng thuốc kháng vitamin K rất khó. Những thay đổi của tỉ lệ prothrombin và của tỉ lệ chuẩn hoá quốc tế - INR là đáng lo ngại. Với người bệnh nghiện rượu, phải tính đến tình hình này để giải thích các biến đổi kết quả test thử sinh học và để quyết định liều ban đầu của thuốc kháng vitamin K; sau đó điều chỉnh liều theo kết quả điều trị thu được. Chú ý: Cần điều chỉnh lại liều lượng, nếu người bệnh quyết định ngừng uống rượu trong thời gian điều trị bằng thuốc chống đông máu.

EBOOK TƯƠNG TÁC THUỐC - BỘ Y TẾ

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH ĐỂ SỬ DỤNG CHO TỐT
KHÁI NIỆM VỀ TƯƠNG TÁC THUỐC
ACAMPROSAT
ACETORPHAN
ACICLOVIR
ACID ASCORBIC
ACID CHENODESOXYCHOLIC HOẶC DẪN CHẤT
ACID CROMOGLYCIC HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
ACID FOLIC HOẶC DẪN CHẤT
ACID FUSIDIC
ACID HOÁ NƯỚC TIỂU ( CÁC CHẤT)
ACTINOMYCIN D
ALOPURIOL HOẶC DẪN CHẤT
ALPROSTADIL
AMANTADIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
AMINEPTIN
AMINOGLYCOSID (NHÓM KHÁNG SINH)
AMIOGLYCOSID ĐƯỜNG UỐNG
AMIODARON
AMPHETAMIN HOẶC DẪN CHẤT
AMPHOTERICIN B
ANTIMON (Hợp chất)
APOMORPHIN
ASPARAGINASE
AZATHIOPRIN
BEPRIDIL
BETAHISTIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
BIGUANID
BIPHOSPHONAT
BRETYLIUM
BROMOCRIPTIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
BUSPIRON
BUTYROPHENON (dẫn chất)
CÁC THUỐC LOẠI CURA
CAFEIN
CALCI (muối)
CALCITONIN
CARBAMAT HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CARBAMAZEPIN
CARMUSTIN
BENZOYL PEROXYD
BENZYL BENZOAT
BENZOFURAN (dẫn chất)
BENZODIAZEPIN (dẫn chất)
BENZIMIDAZOL (dẫn chất)
BENZAMID (dẫn chất)
BARBITURIC (dẫn chất)
BACLOFEN
CEPHALOSPORIN CÓ NHÂN THIOMETHYLTETRAZOL
CEPHALOSPORIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CHOLESTYRAMIN
CHOLINERGIC
CICLOSPORIN
CIMETIDIN
CISAPRID
CISPLATIN HOẶC DẪN CHẤT
CITALOPRAM
CLONIDIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CLORHEXIDIN
CLOZAPIN
COLCHICIN HOẶC DẪN CHẤT
CORTICOID - KHOÁNG
CAROTENOID
CYCLOPHOSPHAMID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CYCLOSERIN
DANAZOL
DANTROLEN
DAPSON
DEFEROXAMIN
DESMOPRESSIN
DEXTRAN
DEXTROPROPOXYPHEN
DIACERHEIN
DIAZOXID
DIDANOSIN
DIHYDROPYRIDIN (dẫn chất)
DILTIAZEM
DIPYRIDAMOL
DISOPYRAMID
DISULFIRAM
DOXAPRAM
DOXORUBICIN HOẶC DẪN CHẤT
Độc tố CLOSTRIDIUM BOTULINUM
DỤNG CỤ TRÁNH THAI
ERGOTAMIN HOẶC DẪN CHẤT
ESTROGEN HOẶC THUỐC NGỪA THAI ESTROPROGESTOGEN
ETHAMBUTOL
ETHOSUXIMID
ETRETINAT (dẫn chất)
EUCALYPTOL
FENOVERIN
FIBRAT
FINASTERID
FLAVOXAT
FLECAINID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
FLOCTAFENIN
FLUCYTOSIN
FLUMAZENIL
FLUOR (Dẫn chất)
FLUORO-5-URACIL
FLUOXETIN
FLUVOXAMIN
FOSCARNET
FOSFOMYCIN
FUROSEMID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
FUSAFUNGIN
GANCICLOVIR
GLUCAGON
GLUCOCORTICOID
GLUTETHIMID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
GLYCOSID TRỢ TIM
GONADOTROPHIN NHAU THAI
GONADOTROPHIN CÓ HOẠT TÍNH FSH
GRISEOFULVIN
GUANETHIDIN
HALOFANTRIN
HEPARIN HOẶC CÁC DẠNG PHÂN TỬ THẤP
HEPARIN TỔNG HỢP
HEPTAMINOL
HISTAMIN HOẶC DẪN CHẤT
HORMON CHỐNG LỢI TIỂU HOẶC DẪN CHẤT
HORMON TĂNG TRƯỞNG HOẶC DẪN CHẤT
HORMON TUYẾN GIÁP
HUYẾT THANH KHÁC LOẠI ĐẶC HIỆU
HYDROXYQUINOLEIN (Dẫn chất)
IDOXURIDIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
IDROCILAMID
IMMUNOGLOBULIN KHÁNG TẾ BÀO LYMPHO
IMMUNOGLOBULIN NGƯỜI
INDINAVIR
INDOMETACIN HOẶC DẪN CHẤT
INSULIN
INTERFERON ALPHA TÁI TỔ HỢP
INTERLEUKIN 2 TÁI TỔ HỢP
ISONIAZID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
KALI (muối)
KHÁNG SINH POLYPEPTID
LAMIVUDIN
LANSOPRAZOL
LEVODOPA
LIDOCAIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
LINCOSAMID
LIPID (nhũ dịch tiêm truyền)
LITHI (muối)
LOPERAMID
LỢI TIỂU GIỮ KALI
LỢI TIỂU THẢI KALI
LỢI TIỂU THẨM THẤU
LƯU HUỲNH
MACROLID
MAGNESI (muối)
MEDIFOXAMIN
MELPHALAN
MERCAPTOPURIN
METHADON
METHENAMIN
METHOTREXAT
METHYLDOPA
METHYSERGID
MEXILETIN
MIANSERIN
MIFEPRISTON
MODAFINIL
MOLSIDOMIN
MUROMONAB CD3
NAFTIDROFURYL
NATRI VALPROAT HOẶC DẪN CHẤT
NELFINAVIR
NHỰA TRAO ĐỔI CATION
NICORANDIL
NICOTIN
NILUTAMID
NIRIDAZOL
NITROFURAN
NITROIMIDAZOL HOẶC DẪN CHẤT
NITROXOLIN
OCTREOTÍD HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
OMEPRAZOL
OXAFLOZAN
OXITRIPTAN
OXYTOCIN
PAPAVERIN HOẶC DẪN CHẤT
PARACETAMOL
PAROXETIN
PENICILAMIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
PENICILIN
PENTAGASTRIN
PENTAMIDIN
PENTOSTATIN
PENTOXYFYLIN
PHENAZON
PHENICOL
PHENOTHIAZIN
PHENYTOIN
PHOSPHO HOẶC PHOSPHAT
PINAVERIUM BROMID
PIPERAZIN
PIRIBEDIL
PRALIDOXIM
PRAZIQUANTEL
PRIMIDON
PROBENECID
PROCARBAZIN
PROGABID
PROGESTOGEN HOẶC DẪN CHẤT
PROPAFENON
PROSTAGLANDIN CHỐNG LOÉT
PROSTAGLANDIN TRONG PHỤ KHOA
PROTAMIN
PYRANTEL HOẶC DẪN CHẤT
PYRAZINAMID
PYRAZOL HOẶC DẪN CHẤT
PYRETHRIN HOẶC DẪN CHẤT
PYRIDOXIN
PYRIMETHAMIN
QUINIDIN HOẶC DẪN CHẤT
QUININ HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
QUINOLON
RANITIDIN
RIFABUTIN
RIFAMPICIN
RITONAVIR
RƯỢU
SALICYLAT (dẫn chất)
SAQUINAVIR
SERMORELIN
SOTALOL
SPARFLOXACIN
SULFAMID CHỐNG TIỂU ĐƯỜNG
SUCRALFAT
SUCCINIMID
STEROID GÂY ĐỒNG HOÁ, ALKYL HOÁ Ở C17
SULFAMID KHÁNG KHUẨN
SULFASALAZIN
SUMATRIPTAN
SYNERGISTIN
TACRIN
TACROLIMUS
TAMOXIFEN
TEICOPLANIN
TERBINAFIN
TETRACOSACTID
TETRACYCLIN
THEOPHYLIN HOẶC DẪN CHẤT
THIOTEPA
THUỐC AN THẦN KINH CÁC LOẠI
THUỐC BẢO VỆ CHỐNG ÁNH SÁNG
THUỐC CẢM ỨNG GÂY RỤNG TRỨNG LOẠI CLOMIFEN
Thuốc cầm máu
Thuốc chẹn alpha
Thuốc chẹn Alpha - Beta
Thuốc chẹn beta
Thuốc chống đau thắt ngực nitrat
Thuốc uống chống đông máu kháng vitamin K
Thuốc chống hen
Thuốc chống ho không opi
Thuốc chống nấm dẫn xuất imidazol
Thuốc chống nấm khác
Thuốc chống sốt rét
Thuốc chống suy nhược kích thích tâm thần
Thuốc chống tăng huyết áp loại liệt hạch
Thuốc ức chế tiêu fibrin
Thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc thuốc tương tự
Thuốc chống ung thư các loại
Thuốc chống vẩy nến dùng tại chỗ
Thuốc chống viêm không steroid
Thuốc chủ vận của morphin
Thuốc vừa chủ vận vừa đối kháng với morphin
Thuốc cường giao cảm alpha và beta
Thuốc cường thần kinh giao cảm beta
Các thuốc trong nhóm
Thuốc diện hoạt tổng hợp tác dụng ở phổi
Thuốc đối kháng morphin
Thuốc đối kháng thụ thể HT3
Thuốc đối quang có baryt
Thuốc đối quang có iod
Thuốc gây mẫn cảm ánh sáng
Thuốc gây xơ cứng tĩnh mạch
Thuốc giãn mạch chống tăng huyết áp
Thuốc hạ lipid máu các loại
Thuốc kháng acid uống, thuốc bao niêm mạc và hấp phụ
Thuốc kháng cholinergic
Thuốc kháng giáp tổng hợp
Thuốc kháng histamin kháng H1 có tác dụng an thần gây buồn ngủ
Thuốc kháng histamin kháng H1 không an thần
Thuốc kiềm hoá nước tiểu
Thuốc làm tan huyết khối
Thuốc làm thay đổi chất nhầy phế quản
THUỐC GÂY MÊ BARBITURIC
THUỐC GÂY MÊ VÀ TIỀN MÊ
THUỐC GÂY MÊ BAY HƠI CHỨA HALOGEN
THUỐC NHUẬN TRÀNG KÍCH THÍCH
THUỐC NHUẬN TRÀNG LÀM MỀM
THUỐC NHUẬN TRÀNG LÀM TRƠN
THUỐC NHUẬN TRÀNG NHẦY VÀ THẨM THẤU
THUỐC NGỪA THAI DIỆT TINH TRÙNG
THUỐC SÁT KHUẨN DẪN CHẤT AMONI BẬC BỐN
THUỐC SÁT KHUẨN CÓ IOD
THUỐC SÁT KHUẨN MUỐI KIM LOẠI
THUỐC SÁT KHUẨN CÓ THUỶ NGÂN
THUỐC SÁT KHUẨN KHÁC
THUỐC SẮT DÙNG TRONG ĐIỀU TRỊ
THUỐC TĂNG ÔXY NÃO
THUỐC TIÊU LỚP SỪNG
CÁC THUỐC TRỢ ĐẺ, DẪN CHẤT CỦA NẤM CỰA GÀ
THUỐC TRỢ HÔ HẤP
THUỐC TRỢ TIM BUPYRIDINIC
THUỐC TRỪ SÂU CLOR HỮU CƠ
THUỐC ỨC CHẾ ENZYM CHUYỂN DẠNG ANGIOTENSIN
THUỐC ỨC CHẾ HMG-COA REDUCTASE (CÁC STATIN)
THUỐC ỨC CHẾ MAO typ A
THUỐC ỨC CHẾ MAO typ b
THUỐC ỨC CHẾ MAO KHÔNG CHỌN LỌC
THUỐC ỨC CHẾ HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG – CÁC LOẠI
TICLOPIDIN
TRH (hormon giải phóng hormon kích thích tuyến giáp, THYROTROPHINE RELEASING HORMONE)
TRIMEBUTIN
TRIMETHOPRIM
VACCIN SỐNG GIẢM ĐỘC LỰC
VANCOMYCIN
Liệu pháp vàng chống thấp khớp
VERAPAMIL
VIDARABIN
VIGABATRIN
VILOXAZIN
VINCAMIN
Vincristin hoặc thuốc tương tự
VITAMIN A
VITAMIN B12
VITAMIN NHÓM B
VITAMIN NHÓM D
Yếu tố tăng trưởng bạch cầu hạt
Yếu tố tăng trưởng hồng cầu
ZALCITABIN
ZIDOVUDIN



KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com