Gvez là thuốc gì? Tác dụng & Liều dùng, giá bán, thành phần

Tên Thuốc Gvez
Giá kê khai
Hoạt Chất - Nồng độ/ hàm lượng
  • Drospirenon

      -  

    3mg
  • Ethinylestradiol

      -  

    0,02mg
Dạng Bào Chế Viên nén bao phim
Hạn sử dụng 24 tháng
Quy cách đóng gói Hộp 1 vỉ x 28 viên (24 viên màu hồng + 4 viên màu trắng)
Phân Loại Thuốc kê đơn
Số Đăng Ký
Tiêu Chuẩn NSX
Công ty Đăng ký

Công ty TNHH DP Việt pháp

11B phố Hoa Bằng. P. Yên Hòa, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Việt nam
Công ty Sản Xuất

Laboratorios Leon Farma, S.A

c/La Vallina s/n - P.I. Navatejera 24008 Navatejara (Leon) Tây Ban Nha
Ngày kê khai
Đơn vị kê khai
Quy cách đóng gói

 gvez

Drospirenon 3 mg / Ethinylestradiol micronized 0,02 mg - Viên nén bao phim

THÀNH PHẦN:

Mỗi viên nén bao phim màu hồng (viên chứa hoỏc môn) bao gồm:

Hoạt chất: 3 mg Drospirenon và 0,02 mg Ethinylestradiol micronized.

Tá dược: vừa đủ cho một viên.

Mỗi viên nén màu trấng (viên giả dược) bao gồm:

Lactose anhydrous 89,50mg; Povidon K.-30 10mg; Magnesi stearat 0,5mg; Opadry White 4mg.

DƯỢC LỰC HỌC

Nhóm dược lý điều trị: Phối hợp Progestogen và estrogen.

Tác dụng ngừa thai của GVEZ dựa vào sự tương tác của nhiều yếu tố, mà quan trọng nhất là sự ức chế rụng trứng và thay đổi nội nội mạc tử cung.

Trong một nghiên cứu 3 chu kỳ rụng trứng so sánh drospirenon 3 mg/ethinylestradiol micronized 0.020 mg ở phác đồ 24 ngày và 21 ngày, thì ở phác đồ 24 ngày khả năng ức chế tạo nang lớn hơn. Sau khi dùng liều có chủ đích ở chu kỳ 3, thì tỷ lệ phụ nữ của phác đồ 21 ngày có hoạt động buồng trứng mạnh hơn bao gồm rụng trứng bất thường so với những phụ nữ sử dụng phác đồ 24 ngày. Hoạt động của buồng trứng trở lại mức trước khi dùng thuốc trong chu kỳ sau khi ngừng thuốc là 91.8% của tổng số phụ nữ của phác đồ 24 ngày.

GVEZ là một thuốc ngừa thai phối hợp chứa ethinylestradiol và progestogen drospirenon. Ở liều điều trị, drospirenon cũng có tác dụng chống nam hóa và chống giữ muối nước nhẹ. Nó không có hoạt tính của estrogen, glucocorticoid và kháng glucocorticoid. Điều này khiến cho drospirenon có tính chất dược lý gần tương tự như hoóc môn progesteron.

Trên lâm sàng, ngoài tác dụng ngừa thai, thuốc phối hợp drospirenon/ethinylestradiol còn có tác dụng chống giữ muối nước và chống nam hóa.

Hai nghiên cứu đa trung tâm, mù đôi, ngẫu nhiên có so sánh giả dược đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả và an toàn của thuốc phối hợp drospirenon/ethinylestradiol ở những phụ nữ có mụn trứng cá mức độ vừa. 

Sau 6 tháng điều trị, so sánh với giả dược, drospirenon/ethinylestradiol làm giảm hơn đáng kể về mặt thống kê 15.6% (49.3% so với 33.7%) các tổn thương do viêm, 18.5% (40.6% so với 22.1%) các tổn thương không do viêm, và 16.5% (44.6% so với 28.1%) tổng số lượng tổn thương. Ngoài ra, tỷ lệ bệnh nhân cao hơn 11.8% (18.6% so với 6.8%) có thể “sạch” hoặc gần như “sạch” mụn, theo Đánh giá Thống kê Toàn cầu (ISGA)

DƯỢC ĐỘNG HỌC

Drospirenon:

Hấp thu

Drospirenon hấp thụ gần như hoàn toàn và nhanh chóng qua đường uống. Nồng độ tối đa của thuốc trong huyết thanh là khoảng 38ng/ml, đạt được sau khi uống từ 1-2 giờ. Sinh khả dụng khoảng từ 76% tới 85%. Thức ăn không ảnh hưởng tới sinh khả dụng của Drospirenon so với khi uống thuốc vào lúc đói.

Phân bố

Sau khi uống thuốc, nồng độ Drospirenon huyết thanh giảm, với thời gian bán thải pha cuối là 31 giờ. Drospirenon gắn với albumin huyết thanh và không gắn với globulin liên kết hoóc môn sinh dục (SHBG) và globulin liên kết corticoid (CBG). Chỉ có từ 3-5% nồng độ thuốc toàn phần trong huyết thanh là tồn tại ở dạng steroid tự do. SHBG tăng do ethinylestradiol không ảnh hưởng đến các sự gắn kết protein huyết thanh với Drospirenon. Thể tích phân bố của Drospirenon lả 3,7±1,2 lít/kg.

Chuyển hóa

Drospirenon được chuyển hóa rộng khắp sau khi uống. Các chất chuyển hóa chính trong huyết tương ở dạng acid của Drospirenon, được tạo ra bằng cách mở vòng lacton và 4,5-dihydro- drospirenone-3sulphat. Cả 2 chất đều được hình thành mà không có sự tham gia của hệ thống P450. Drospirenon được chuyến hóa một lượng rất nhỏ bởi cytocrom P450 3A4 và thể hiện khả năng ức chế enzyme này và enzym cytocrom P450 1A1, cytocrom P450 2C9 và cytocrom P450- 2C19 trên in vitro.

Thải trừ

Tốc độ thanh thải chất chuyển hóa của Drospirenon trong huyết thanh là 1,5 ± 0,2 ml/phút/kg. Drospirenon dạng chưa biến đổi được bài tiết chỉ ở dạng vết. Các chất chuyển hóa của Drospirenon được bài tiết qua phân và nước tiều với tỷ lệ à khoảng 1,2 - 1,4. Thời gian bán hủy (t1/2) của chất chuyển hóa trong phân và nước tiểu là khoảng 40 giờ.

Các trạng thái ổn định

Trong một chu kỳ điều trị, nồng độ ổn định tối đa lớn nhất của Drospirenon trong huyết thanh là 70ng/ml, đạt được vào ngày thứ 8 của điều trị. Nồng độ Drospirenon huyết thanh tích lũy từ khoảng 3 như hệ quả của tỉ số 11/2 giai đoạn cuối và khoảng thời gian dùng thuốc.

Nhóm đối tượng đặc biệt

Tác dụng trên bệnh nhân suy thận

Nồng độ Drospirenon ổn định trong huyết thanh ở phụ nữ suy thận nhẹ (Thanh thải creatinin CLcr, 50-80 mL/phút) đã được so sánh với những phụ nữ có chức năng thận bình thường (CLcr > 80ml/phút). Nồng độ Drospirenon huyết thanh trung bình cao hơn 37% ở những phụ nữ suy thận vừa (CLcr 30-50ml/phủt) so với nhũng phụ nữ có chức năng thận bình thường. Drospirenon được dung nạp tốt ở tất cả các nhóm bệnh nhân. Drospirenon đã không cho thấy bất cứ tác động nào có ý nghĩa lâm sàng trên nồng độ kali huyết thanh.

Tác dụng trên bệnh nhân suy gan

Độ thanh thải đường uống (CL/f) giảm rõ rệt khoảng 50% được thấy ở những người tình nguyện có suy gan trung bình so với những người có chức năng gan bình thường. Sự suy giảm độ thanh thải Drospirenon quan sát được ở những người tình nguyện suy gan trung bình so với các tình nguyện bình thường không áp dụng cho các thông số khác như nồng độ kali huyết thanh. Ngay cả khi có bệnh tiểu đường vả điều trị đồng thời với Spironolacton (2 tác nhân có thể làm tăng kali huyết) thì sự tăng nồng độ kali huyết thanh trên mức giới hạn bình thường đã không được ghi nhận. Do đó, có thể kết luận được rằng Drospirenon dung nạp tốt ở những bệnh nhân suy gan nhẹ và vừa (Child-Pugh B).

Chủng tộc

Sự khác biệt chủng tộc giữa phụ nữ Nhật Bản và da trắng không có ảnh hưởng lâm sàng liên quan tới dược động học của Drospirenon và ethinylestradiol.

Ethinylestradiol:

Hấp thu

Ethinylestradiol đường uống được hấp thụ nhanh chóng và hoàn toàn. Nồng độ đỉnh trong huyết thanh là khoảng 33pg/ml, đạt được trong vòng 1-2 giờ sau khi uống thuốc. Sinh khả dụng tuyệt đối là kết quả của sự liên hợp trước khi xâm nhập toàn thân và chuyển hóa lần đầu là khoảng 60%. Sử dụng đồng thời với thức ăn làm giảm sinh khả dụng của ethinylestradiol khoảng 25% trên các đối tượng nghiên cứu, trong khi không có thay đổi nào quan sát được trên những người khác.

Phân bố

Nồng độ ethinylestradiol huyết thanh giảm trong 2 pha, pha cuối được đặc trưng bởi t1/2 khoảng 24 giờ. Ethinylestradiol găn kết cao nhưng không đặc hiệu với albumin huyết thanh (khoảng 98,5%) và làm tăng nồng độ SHBG và CBG trong huyết thanh. Thể tích phân bố được xác định là khoảng 5L/kg.

Chuyển hóa

Ethinylestradiol được liên hợp tại niêm mạc ruột non và gan trước khi xâm nhập toàn thân. Ethinylestradiol chủ yếu được chuyển hóa bằng phản ứng hydroxyl hóa thơm, nhưng tạo thành nhiều chất chuyển hóa hydroxyl hóa và methyl hóa khác nhau, và những chất này hiện diện như những chất chuyển hóa tự do và chất liên hợp với glucuronid và sulfat. Tốc độ thanh thải chuyển hóa vào khoảng 5 mL/phút/kg.

Thải trừ 

Ethinylestradiol không được bài tiết ở dạng không thay đổi. Các chất chuyển hóa của ethinylestradiol được bài tiết trong nước tiểu và mật theo tỉ lệ 4:6. Thời gian bán thải của bài tiết chất chuyển hóa là khoảng 1 ngày.

Các trạng thái ổn định

Trạng thái ổn định đạt được trong nửa sau của chu kỳ điều trị và nồng độ ethinylestradiol huyết thanh tích lũy là khoảng 2,0 tới 2,3.

CHỈ ĐỊNH

Ngừa thai.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG

Liều lượng

Uống thuốc ngừa thai Gvez như thế nào

Thuốc được dùng hàng ngày vào cùng một thời điểm và lần lượt theo thứ tự mũi tên được ghi trên vỉ thuốc. Dùng mỗi ngày 1 viên, liên tục trong 28 ngày. Bắt đầu dùng vỉ tiếp theo vào ngày kế tiếp của viên cuối cùng của vỉ trước đó. Xuất huyết thường bắt đầu vào ngày thứ 2-3 sau khi bắt đầu uống viên giả dược và có thể kéo dài sang ngày dùng thuốc vỉ tiếp theo.

Bắt đầu uống GVEZ như thế nào

  • Trước đó không sử dụng thuốc ngừa thai chửa hoóc môn (trong tháng trước)

Thuốc phải được uống vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh.

  • Thay đổi từ một liệu pháp ngừa thai chứa hoóc môn phối hợp (thuốc ngừa thai phối hợp đường uống (COC), đặt vòng hoặc miếng dán)

Nên bắt đầu với GVEZ tốt nhất vào ngày kế tiếp sau khi dùng viên cuối cùng chứa hoóc môn, nhưng muộn nhất vào ngày tiếp theo sau khi dùng viên giả dược của thuốc ngừa thai phối hợp đang được dùng trước đó. Trong trường hợp đặt vòng hoặc dùng miếng dán trên da thì nên dùng GVEZ tốt nhất vào ngày loại bỏ các dụng cụ này nhưng chậm nhất là khi các dụng cụ tiếp theo được dùng.

Thay đổi từ một liệu pháp ngừa thai chỉ có progestogen hoặc từ một dụng  cụ trong tử cung phóng thích progestogen (IUS) 

 thể chuyển đổi ở bất kỳ ngày nào từ thuốc ngừa thai chỉ chứa progestogen, nhưng trong tất cả các trường hợp này nên sử dụng thêm một biện pháp ngừa thai khác trong 7 ngày đầu tiên dùng Gvez.

Sau khi sảy/ nạo thai ở thai kỳ đầu tiên

Có thể dùng thuốc ngay lập tức. Khi dùng như vậy, không cần dùng thêm các biện pháp ngừa thai nào khác.

Sau khi sinh hoặc sảy /nạo thai ở thai kỳ thứ hai

Nên bắt đầu dùng thuốc vào ngày thứ 21-28 sau khi sinh hoặc sảy/nạo thai ở thai kỳ thứ hai. Nếu bắt đầu dùng thuốc muộn hơn, nên sử dụng thêm một biện pháp ngừa thai khác trong bảy ngày đầu tiên. Tuy nhiên, nếu đã giao hợp, cần phải loại trừ khả năng có thai trước khi áp dụng biện pháp ngừa thai phối hợp hoặc phải chờ tới khi xuất hiện chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên.

Xử trí khi quên uống thuốc

thể không cần quan tâm tới các viên giả dược. Tuy nhiên, chúng cần bị loại bỏ đề tránh vô tinh kéo dài giai đoạn dùng các viên giả dược. Lời khuyên sau đây chỉ đề cập đến các viên thuốc chứa hoóc môn bị quên:

Nếu uống thuốc muộn dưới 24 giờ đối với bất kỳ viên nào, thì tác dụng ngừa thai không bị giảm. Nên dùng thuốc ngay khi nhớ ra và dùng viên tiếp theo vào thời gian như thường lệ.

Nếu uống thuốc muộn hơn 24 giờ thì tác dụng ngừa thai có thể bị giảm đi. Việc xử trí viên thuốc bị quên có thể theo 2 nguyên tắc cơ bản sau đây:

  1. Khoảng cách với các viên giả dược khuyến cáo là 4 ngày, việc dùng thuốc phải không bao giờ bị gián đoạn quá 7 ngày.
  1. 7 ngày dùng thuốc không bị gián đoạn là cần thiết để đạt được sự ức chế đầy đủ của trục hạ đồi- tuyến yên-buồng trứng.

Theo đó, có thể áp dụng các lời khuyên sau đây:

  • Ngày thứ 1-7:

Uống viên thuốc cuối cùng bị quên ngay khi nhớ ra, thậm chí phải uống 2 viên cùng lúc, sau đó tiếp tục với các viên khác như thường lệ. Ngoài ra, một biện pháp ngừa thai hỗ trợ như dùng bao cao su nên được áp dụng trong 7 ngày tiếp theo. Nếu giao hợp xảy ra trước 7 ngày, thì khả năng có thai cần được xem xét. Càng nhiều viên bị quên và càng gần đến thời gian dùng viên giả dược, thì nguy cơ có thai càng cao.

  • Ngày thứ 8-14

Dùng viên thuốc cuối cùng bị quên ngay khi nhớ ra, thậm chí phải uống 2 viên cùng lúc, sau đó tiếp tục với các viên khác như thường lệ. Miễn là 7 ngày trước viên đầu tiên bị quên, các viên thuốc đã được dùng đúng theo lịch trình thì không cần   sử dụng thêm biện pháp ngừa thai khác. Tuy nhiên, nếu đã quên uống nhiều hơn 1 viên, thì nên dùng thêm các biện pháp ngừa thai khác trong 7 ngày tiếp theo.

  • Ngày 15-24

Nguy cơ giảm độ tin cậy là sắp xảy ra bởi vì giai đoạn của các viên giả dược sắp tới. Tuy nhiên, bằng cách điều chỉnh lịch uống thuốc, sự giảm tác dụng ngừa thai vẫn có thể được ngăn chặn. Bằng cách áp dụng một trong hai cách sau đây, thì không cần phải dùng thêm biện pháp ngừa thai khác, miễn là trong 7 ngày trước khi viên đầu tiên bị quên, các viên thuốc đã được uống đúng lịch trình. Nếu không đúng, cần áp dụng phương án đầu tiên và sử dụng thêm biện pháp ngừa thai trong 7 ngày tiếp theo là tốt nhất.

  1. Uống viên thuốc cuối cùng bị quên ngay khi nhớ ra, thậm chí phải uống hai viên thuốc cùng một lúc. Sau đó, tiếp tục uống các viên khác như thường lệ cho đến khi dùng hết các viên thuốc chứa hoóc môn. Loại bỏ 4 viên giả dược (viên màu trắng) và dùng ngay sang vỉ tiếp theo. Khó có thể có xuất huyết do giảm nội tiết cho đến khi kết thúc các viên chứa hoóc môn của vỉ thứ hai, nhưng có thể bị chảy máu kinh “chọc thủng”/ xuất huyết lốm đốm trong những ngày dùng thuốc.
  2. Có thể ngừng uống các viên chứa hoóc môn từ vỉ thuốc hiện tại. Sau CTO, dùng các viên gỉa dược trong 4 ngày, bao gồm những ngày quên uống thuốc, và sau đó tiếp tục với vỉ tiếp theo.

NẾU quên uống thuốc và sau đó không bị xuất huyết do giảm nội tiết trong thời gian dùng giả dược thì khả năng có thai nên được xem xét.

Lời khuyên trong trường hợp rối loạn dạ dày-ruột

Trong trường hợp rối loạn dạ dày-ruột nghiêm trọng (ví dụ: nôn mửa hoặc tiêu chảy) có thể là do hấp thụ không hoàn toàn và các biện pháp ngừa thai bổ sung nên được thực hiện. Nếu nôn mửa  xảy ra trong vòng 3-4 giờ sau khi uống thuốc, một viên mới (thay thế) cần được uống càng sớm  càng tốt. Viên thuốc mới cần phải được uống trong vòng 24 giờ của thời gian uống thuốc thông thường nếu có thể. Nếu quá 24 giờ, nên áp dụng những hướng dẫn liên quan đến viên thuốc bị bỏ quên như được nếu trọng mục “Xử trí khi quên uống thuốc”. Nếu bạn không muốn thay đổi lịch uống thuốc thông thường của mình, thì phải sử dụng viên thuốc thay thế từ một vỉ thuốc khác.

Làm thể nào để trì hoãn chảy máu do giảm nội tiết

Để trì hoãn một thời gian bạn cần tiếp tục với một vỉ GVEZ khác mà không cần dùng các viên thuốc giả dược của vỉ hiện tại. Sự kéo dài có thể được thực hiện lâu như mong muốn cho đến khi kết thúc viên thuốc chứa hoóc môn của vỉ thuốc thứ hai. Trong thời gian kéo dài bạn có thể bị chảy máu kinh “chọc thủng” hoặc xuất huyết lốm đốm. Dùng GVEZ đều đặn sau thời gian dùng các viên giả dược.

Để thay đổi chu kỳ của mình sang một ngày khác trong tuần so với việc đã quen với kế hoạch hiện tại của mình, bạn có thể được tư vấn để rút ngắn giai đoạn dùng các viên giả dược sắp tới của mình bao nhiêu ngày như mong muốn. Càng rút ngắn thời gian bao nhiêu thì nguy cơ không chảy máu do giảm nội tiết và sẽ trải qua thời gian chảy máu kinh “chọc thủng” trong thời gian sử dụng các vỉ tiếp theo (giống như khi trì hoãn một thời gian) càng cao bấy nhiêu.

Cách dùng

Sử dụng thuốc đường uống.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Không được sử dụng các thuốc ngừa thai phối hợp (COC) khi có bất kỳ bệnh lý nào được liệt kê dưới đây. Nếu có bất kỳ triệu chứng nào xuất hiện lần đầu tiên trong quá trình sử dụng COC, phải ngừng thuốc ngay lập tức:

  • Đang mắc hoặc tiền sử huyết khối tĩnh mạch (huyết khối tĩnh mạch sâu, nghẽn mạch phổi).
  • Đang mắc hoặc tiền sử huyết khối động mạch (ví dụ: nhồi máu cơ tim) hoặc triệu chứng báo trước (ví dụ: đau thắt ngực và thiếu máu cục bộ thoáng qua).
  • Tai biến mạch máu não hiện tại hoặc trong tịch sử.
  • Sự hiện diện của một yếu tố nghiêm trọng hoặc nhiều nguy cơ đối với huyết khối động mạch:
    • đái tháo đường với các triệu chứng mạch máu,
    • tăng huyết áp nặng,
    • rối loạn lipoprotein huyết nghiêm trọng.
  • Khuynh hướng di truyền hoặc mắc phải đối với huyết khối tĩnh mạch hoặc động mạch, như kháng APC, sự thiếu hụt antithrombin -Ill, sự thiếu hụt protein c, sự thiếu hụt protein s, tăng homocystein huyết và các kháng thể kháng phospholipid (các kháng thể kháng cardiolipin, kháng đông lupus).
  • Viêm tụy hoặc có tiền sử đó nếu kết hợp với tăng triglycerid máu nghiêm trọng.
  • Đang mắc hoặc tiền sử bệnh gan nặng miễn là giá trị chức năng gan chưa trở lại bình thường.
  • Suy thận nặng hoặc suy thận cấp.
  • Đang mắc hoặc tiền sử u gan (lành tính hoặc ác tính).
  • Nghi ngờ hoặc đã xác định u ác tính do hoóc môn sinh dục (ví dụ: của các cơ quan sinh dục hoặc vú)
  • Chảy máu âm đạo chưa được chẩn đoán.
  • Tiền sử đau nửa đầu với các triệu chứng thần kinh khu trú.
  • Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG

Cảnh báo:

Nếu có bất kỳ bệnh lý hoặc yếu tố nguy cơ được đề cập dưới đây thì cần so sánh lợi ích của việc sử dụng COC với những rủi ro có thể xảy ra và cần phải thông báo cho người dùng trước khi quyết định sử dụng thuốc. Trong trường hợp bệnh lý nặng thêm hoặc sự bộc phát hoặc có dấu hiệu đầu tiên của bất kỳ bệnh lý nào hoặc các yếu tố nguy cơ, bạn nên liên hệ với bác sĩ của mình. Các bác sĩ sau đẻ sẽ quyết định về việc có tiếp tục sử dụng COC hay không.

Rối loạn tuần hoàn:

Việc sử dụng bất kỳ biện pháp ngừa thai đường uống kết hợp (COC) mang một nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) cao hơn so với không sử dụng. Nguy cơ VTE cao nhất trong năm đầu tiên ở phụ nữ lần đầu sử dụng một COC hoặc khi dùng lại COC sau một khoảng thời gian không uống thuốc ít nhất là một tháng.

Nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc VTE ở phụ nữ không có yếu tố nguy cơ cho VTE những người mà sử dụng thuốc ngừa thai phối hợp estrogen liều thấp (<0,05 mg ethinylestradiol) dao động từ khoảng 20 trường hợp/100.000 phụ nữ trên năm (đối với COC chứa levonorgestrel) đến 40 trường hợp /100.000 phụ nữ trên năm (đối với COC chứa desogestrel/gestodene). Điều này so sánh với 5-10 trường hợp/100.000 phụ nữ không dùng thuốc và 60 trường hợp/100.000 ca mang thai. VTE gây tử vong ở 1-2 % trường hợp.

Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng nguy cơ VTE khi dùng COC có chứa drospirenon là cao hơn so với COC chứa levonorgestrel (được gọi là thuốc ngừa thai thế hệ thứ hai) và có thể tương tự như nguy cơ của thuốc COC chứa desogestrel/Gestoden (được gọi là thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba).

Các nghiên cứu dịch tễ học cũng cho thấy sự liên quan giữa việc sử dụng COC với sự gia tăng nguy cơ huyết khối động mạch (nhồi máu cơ tim, cơn thiếu máu nào thoáng qua).

Rất hiếm khi huyết khối đã được báo cáo xảy ra ở các mạch máu khác, ví dụ như tĩnh mạch gan, mạc treo ruột, thận, mạch máu não hay võng mạc và các động mạch ở những người sử dụng thuốc ngừa thai. Chưa có sự nhất trí về việc sự xuất hiện của những tình trạng này có liên quan đến việc sử dụng biện pháp ngừa thai nội tiết tố.

Các triệu chứng của huyết khối/ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch hoặc động mạch hoặc của tai biến mạch máu não có thể bao gồm:

  • Đau chân một bên và / hoặc sưng bất thường.
  • Đau ngực đột ngột và nghiêm trọng, kèm hoặc hay không kèm đau lan tỏa vào cánh tay trái.
  • Khó thở đột ngột.
  • Đột nhiên ho.
  • Đau đầu kéo dài, nặng và bất thường.
  • Mất thị lực hoàn toàn hoặc một phần đột ngột.
  • Nhìn đôi.
  • Nói nhịu hoặc loạn vận ngôn.
  • Chóng mặt.
  • Suy sụp có hoặc không có co giật cục bộ.
  • Mệt mỏi hoặc tê đáng kể ảnh hưởng đột ngột đến một bên hoặc một phần của cơ thể.
  • Rối loạn vận động.
  • Đau bụng “cấp tính".

Nguy cơ biến chứng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở người sử dụng COC tăng theo:

  • Độ tuổi tăng.
  • Tiền sử gia đình (thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối đã từng xuất hiện ở anh chị em hoặc cha mẹ ở độ tuổi tương đối sớm). Nếu nghi ngờ bẩm chất di truyền, bạn nên được giới thiệu đến một chuyên gia để dược tư vấn trước khi quyết định về việc sử dụng COC.
  • Bất động kéo dài, phẫu thuật lớn, bất kỳ phẫu thuật chân nào, hoặc chấn thương nặng. Trong những tình huống này thì nên ngừng thuốc (trong trường hợp phẫu thuật không cấp thiết/ phẫu thuật thẩm mỹ thì phải ngừng thuốc từ trước, ít nhất bốn tuần) và không tiếp tục cho đến hai tuần sau khi hoạt động trở lại hoàn toàn. Điều trị chống huyết khối nên được xem xét nếu không ngừng uống thuốc ngừa thai từ trước.
  • Béo phì (chỉ số khối cơ thể hơn 30 kg/m3)
  • Không có sự nhất trí về vai trò có thể có của giãn tĩnh mạch và viêm tác tĩnh mạch nồng trong sự khởi đầu hoặc tiến triển của huyết khối tĩnh mạch.

Nguy cơ của biến chứng tắc mạch do huyết khối động mạch hoặc của tai biến mạch máu não ở người sử dụng COC tăng theo:

  • Độ tuổi tăng.
  • Hút thuốc (phụ nữ trên 35 tuổi không nên hút thuốc nếu họ muốn sử dụng một COC).
  • Rối loạn lipoprotein huyết.
  • Tăng huyết áp.
  • Đau nửa đẩu.
  • Béo phì (chỉ số khối cơ hơn 30 kg/m2).
  • Tiền sử gia đinh (thuyên tắc động mạch do huyết khối từng xảy ra ở anh chị em hoặc cha mẹ ở độ tuôi tương đối sớm). NẾU nghi ngờ nguy cơ di truyền, bạn nên được giới thiệu đến một chuyên gia để được tư vấn trước khi quyết định về việc sử dụng coc.
  • Bệnh van tim.
  • Rung tâm nhĩ.

Sự hiện diện của một yếu tố nguy cơ nghiêm trọng hoặc nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch hoặc tĩnh mạch hoặc, tương ứng, cũng có thể coi là một chống chỉ định. Khả năng điều trị chống đông cũng nên được tính đến. Người sử dụng COC phải được chỉ rõ là cần liên hệ với bác sĩ trong trường hợp có các triệu chứng của huyết khối. Trong trường hợp nghi ngờ hoặc xác định huyêt khối, phải ngừng sử dụng COC. cần áp dụng biện pháp ngừa thai thay thế thích hợp vì nguy cơ gây sinh quái thai của thuốc kháng đông (coumarin).

Tăng nguy cơ thuyên tắc mạch do huyết khối trong thời kỳ sinh nở cũng phải được xem xét (xem mục Khả năng sinh sản, mang thai và cho con bú).

Các bệnh lý khác có liên quan đến các biến chứng mạch máu bao gồm bệnh tiểu đường, lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng urê huyết do tán huyết và bệnh viêm đường ruột mãn tính (bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng) và bệnh hồng cầu hình liềm.

Sự gia tăng tần số hoặc mức độ nghiêm trọng của chứng đau nửa đầu trong quá trình sử dụng COC (có thể dự báo một biến chứng mạch máu não) có thể là một lý do để ngừng ngay lập tức của COC.

Các khối u

Sự gia tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung ở người sử dụng lâu dài của COC (> 5 năm) đã được báo cáo trong một số nghiên cứu dịch tễ học, nhưng vẫn tiếp tục còn tranh cãi về việc phát hiện này được cho là do những tác động gây nhiễu của hành vi tình dục và các yếu tố khác như virus HPV ở người.

Một phân tích tong hợp từ 54 nghiên cứu dịch tễ báo cáo rằng có một nguy cơ tương đối tăng nhẹ (RR - 1,24) của ung thư vú được chẩn đoán ở những phụ nữ đang sử dụng COC. Nguy cơ cao dần dần biến mất trong quá trình 10 năm sau khi ngừng sử dụng COC. Vì ung thư vú hiếm khi xảy ra ở phụ nữ dưới 40 tuổi nên số lượng chẩn đoán ung thư vú ở người đang và vừa mới ngừng sử dụng coc là nhỏ so với rủi ro tổng thể của ung thư vú. Những nghiên cứu này không cung cấp bằng chứng cho quan hệ nhân quả. Mô hình được quan sát của sự gia tăng nguy cơ có thể là do một chẩn đoán sớm ung thư vú ở người sử dụng COC hoặc do tác dụng sinh học của COC hoặc kết hợp cả hai. Ung thư vú được chẩn đoán ở người từng sử dụng có xu hướng ít tiến triển trên lâm sàng hơn so với các bệnh ung thư được chẩn đoán ở những người không bao giờ sử dụng.

Trong trường hợp hiếm hoi, các khối u gan lành tính, và thậm chí hiếm hơn là các khối u gan ác tính đã dược báo cáo ở những người dùng COC. Ở một số trường hợp cá biệt, những khối u này đã dẫn đến xuất huyết trong ổ bụng đe dọa tính mạng. Một khối u gan cần được xem xét trong chẩn đoán phân biệt khi đau bụng trên nghiêm trọng, gan to hoặc có dấu hiệu xuất huyết trong ổ bụng xảy ra ở phụ nữ dùng COC.

Với việc sử dụng COC liều cao hơn định lượng (50 µg ethinylestradiol) nguy cơ ung thư buồng trứng và nội mạc tử cung giảm. Liệu điều này có đúng đối với COC liều thấp hơn vẫn đang cần được xác nhận.

Các tình trạng khác

Thành phần progestin trong GVEZ là một chất đối kháng aldosteron với các thuốc ch