1.21. THUỐC BỌT Y TẾ

 Medicated foams

Thuốc bọt là dạng thuốc lỏng đóng trong bao b́ kín với khí đẩy ở áp suất cao thích hợp, trong đó có một lượng khí phân tán đều trong môi trường lỏng tạo bọt, khi dùng bọt tự vỡ do khí thoát đi c̣n lại thuốc ở dạng mềm dễ bám dính.

Thuốc bọt y tế dùng để sát trùng da, niêm mạc, vết thương, trị bỏng,…hoặc vào việc thích hợp khác.Thuốc chứa một hoặc nhiều hoạt chất, thường gặp như menthol, tinh dầu tràm, clorocresol, hexetidin,...và các tá dược thích hợp như chất dẫn, chất sát trùng bảo quản, chất tạo nhũ, tạo bọt và chất ổn định. Các tá dược phải đảm bảo không ảnh hưởng tới chức năng hoặc gây tổn thương, kích ứng nơi dùng thuốc,…. 

Thuốc bọt được h́nh thành bởi sự phân tán khí trong môi trường lỏng chứa họat chất, tá dược và trạng thái bọt phải h́nh thành ổn định. Thuốc được đóng trong chai, lọ chứa với khí đẩy và có phụ tùng như van, nút bấm để đẩy thuốc ra khỏi bao b́ khi sử dụng.

Phương pháp sản xuất:

Thuốc bọt được bào chế dưới dạng nhũ tương, thường là nhũ tương Dầu trong Nước, trong đó họat chất được hoà tan vào một trong 2 pha tuỳ đặc tính thân nước hoặc thân dầu của chúng. Thuốc được đóng vào một b́nh chứa kiểu khí dung và đặt van, nút bấm phù hợp. Tiếp, khí đẩy được nén vào b́nh với áp suất thích hợp, khí đẩy sẽ phân tán trong tướng dầu của nhũ tương tạo ra bọt ở áp lực cao trong b́nh kín.

Khí đẩy thường dùng là khí hóa lỏng hydrocarbon và dẫn chất.

Tiêu chuẩn chất lượng

Đạt yêu cầu chất lượng theo các chuyên luận riêng.

Thuốc bọt y tế dạng đóng khí đẩy dưới áp suất cao phải đáp ứng các yêu cầu chung của thuốc khí dung (Phụ lục 1.18).

Nếu thuốc bọt dùng trên vết thương, phải đạt yêu cầu vô khuẩn ( Phụ lục 13.7).

Tiêu chuẩn riêng cho thuốc bọt gồm: Tỷ trọng của thuốc, khả năng tạo bọt.

Xác định tỷ trọng tương đối của thuốc bọt: Đặt chai/lọ thuốc c̣n nguyên vẹn ở nhiệt độ 250C ít nhất trong 24 giờ. Lấy chai thuốc ra, cẩn thận không làm cho thuốc nóng lên, và gắn 1 ống cứng có đường kính trong 1mm và chiều dài 70-100 mm vào lỗ phun thuốc ở đầu bấm. Lắc chai để thuốc đồng nhất và bấm nút để bỏ lượng thuốc thoát ra ban đầu khỏang 5-10ml. Cân b́ một đĩa đáy bằng có chiều cao khỏang 35 mm và dung tích khỏang 60 ml. Cho đầu ống chạm góc của đĩa và bấm cho thuốc chuyển vào đĩa, chuyển đầu ống xoay tṛn trên khắp mặt đĩa cho bọt thuốc phủ đều và cao hơn mặt đĩa. Dùng một phiến mỏng gạt cho bọt bằng phẳng và vừa đúng thể tích của đĩa. Cân khối lượng thuốc, ( mt). Tiếp theo cho một thể tích nước cất (TT) tương tự. Cân khối lượng nước, ( mn).

  

 


Tiến hành thí nghiệm 3 lần, lấy kết quả trung b́nh.

Kết quả mỗi lần thử không được lệch quá 20% so với giá trị trung b́nh.

Khả năng tạo bọt của thuốc: Chuẩn bị dụng cụ, ( xem h́nh) gồm: Một buret dung tích 50 ml , chia vạch đến khỏang 0,1ml có đường kính trong 15 mm và khóa có lỗ thóat 4 mm. Gắn 1 ống dẫn bằng chất dẻo có đường kính trong 4 mm và chiều dài không quá 50 mm, vào đầu ra của buret. Đặt chai/lọ thuốc c̣n nguyên vẹn ở nhiệt độ 250 C ít nhất trong 24 giờ. Lấy chai thuốc ra, cẩn thận không làm cho thuốc nóng lên. Lắc chai để thuốc đồng nhất và bấm nút để bỏ lượng thuốc thoát ra ban đầu khỏang 5-10ml. Tiếp gắn ống đă nối với buret vào lỗ phun thuốc ở đầu bấm. Bấm cho thuốc đi vào buret được 30ml tính theo chiều cao của khối bọt cho một lần thử nghiệm. Cứ mỗi 10giây đọc và ghi nhận thể tích cao nhất cần đạt được của cột bọt theo ấn định. Khóa buret lại đồng thời ghi mốc thời gian đă tiêu tốn để đạt tới thể tích cột bọt. Khi đọc, do bề mặt của khối bọt không phẳng, nên có thể đọc vạch cao nhất và vạch thấp nhất, cộng lại chia trung b́nh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


H́nh 1.21. Dụng cụ xác định khả năng tạo bọt của thuốc bọt y tế .

Tiến hành thí nghiệm 3 lần.

Kết quả: phải không có lần nào tốn quá 5phút để đạt được thể tích ấn định của cột bọt.

Nhăn thuốc:

Thuốc bọt y tế phải dán nhăn theo quy định chung.