Leucomax

Hăng xản xuất

Novartis

Nhóm dược lư

Thuốc tác dụng trên CQ tạo máu (kích thích tăng trưởng bạch cầu)

Thành phần

Molgramostime

Dạng bào chế

Bột pha tiêm dưới da và tiêm truyền tĩnh mạch 300 mcg : hộp 1 lọ bột đông khô + ống dung môi 1 ml

Cho 1 lọ

Molgramostime

300 mcg

ống dung môi : Nước cất pha tiêm

1 ml

Biệt dược khác

Leukokine (Cheil Jedang Corp) ống tiêm 300mcg

Dược lực
Granulocyte - Macrophage Colony Stimulating Factor - Yếu tố kích thích nhóm bạch cầu hạt và đại thực bào là một protéine tinh chất tham gia điều ḥa cả quá tŕnh tạo máu và hoạt động chức năng của bạch cầu. rHu GM-CSF là một protéine ḥa tan được trong nước, không glycosilat, chứa 127 acide amine và có trọng lượng phân tử là 14,477 dalton. rHu GM-CSF được chế bằng công nghệ gen với một chủng Escherichia coli có plasmide được ghép gen rHu GM-CSF.
Những nghiên cứu thực nghiệm sử dụng các tế bào máu dây rốn trong môi trường nuôi cấy đă cho thấy rằng rHu GM-CSF kích thích sự tăng sinh và biệt hóa của các tế bào máu tiền thân. Nồng độ cần thiết để gây ra một nửa tác dụng tối đa là 0,5 ng/ml. Nhiều thực nghiệm khác đă chứng minh rằng rHu GM-CSF đă kích thích sự tăng trưởng của các bạch cầu hạt, bạch cầu đơn nhân và lympho T nhưng không tác động đến lympho B. Việc tăng số lượng các tế bào máu trưởng thành cũng đă được ghi nhận. Khi tiếp xúc với những tế bào tủy xương của người cho, rHu GM-CSF có tác động tới việc h́nh thành các nhóm tạo ra các đơn vị bạch cầu hạt (CFU-G), các đơn vị đại thực bào (CFU-M) và các đơn vị bạch cầu hạt, đại thực bào (CFU-GM). Cả kích thước nhóm và số lượng nhóm được tăng lên.
Những nghiên cứu khác trên thực nghiệm cũng đă chỉ ra rằng bản thân chất rHu GM-CSF có thể kích thích các đại thực bào và bạch cầu đơn nhân lớn tiêu hủy các tế bào u, cũng giống như khả năng làm tăng quá tŕnh tiêu hủy các tế bào u của các bạch cầu lympho và bạch cầu đơn nhân lớn khi có mặt kháng thể đơn ḍng (MAb 17-IA).
Dược động học
Những nghiên cứu trên chuột đă cho thấy rằng, sau khi tiêm tĩnh mạch rHu GM-CSF gắn với I125, hoạt tính phóng xạ được phân bố một cách rộng răi. Thuốc có vẻ được chuyển hóa và bài tiết một cách nhanh chóng, điều đó được chứng minh bởi sự xuất hiện nhanh chóng của chất ghi dấu phóng xạ đă mất hiệu lực sinh học ở trong huyết thanh và sự bài tiết vào trong nước tiểu chất ghi dấu phóng xạ không đặc hiệu.
Dược động học của rHu GM-CSF cũng đă được nghiên cứu trên khỉ, trên những người đàn ông t́nh nguyện khỏe mạnh và trên người bệnh, với các phác đồ là giống nhau ở tất cả các mẫu nghiên cứu. Sau khi tiêm dưới da với các liều 3, 10 hoặc 20 mcg/kg và tiếp theo đó tiêm tĩnh mạch các liều từ 3 - 30 mcg/kg, sự tăng lên của đỉnh nồng độ trong huyết thanh và diện tích dưới đường cong (AUC) là tương quan với liều dùng, cả trên những người t́nh nguyện cũng như trên những nhóm bệnh nhân được nghiên cứu. Nồng độ tối đa rHu GM-CSF trong huyết thanh đạt được trong ṿng 3-4 giờ sau khi tiêm dưới da. Thời gian bán hủy là từ 1-2 giờ sau khi tiêm tĩnh mạch và 2-3 giờ sau khi tiêm dưới da.
Chỉ định
Leucomax được chỉ định trong điều trị hoặc dự pḥng các trường hợp giảm bạch cầu do dùng các trị liệu gây ức chế tủy xương. Trên các bệnh nhân suy tủy, Leucomax được chỉ định điều trị các trường hợp có giảm bạch cầu phối hợp. Bằng cách đó, Leucomax có tác dụng dự pḥng những nguy cơ biến chứng nhiễm trùng do giảm bạch cầu.
Leucomax do vậy có thể làm cho sự phục hồi tủy xương trên những bệnh nhân nhiễm trùng có giảm bạch cầu trung tính nhanh hơn.
Chống chỉ định
Leucomax không dùng trên những bệnh nhân có tiền sử quá mẫn cảm với rHu GM-CSF hoặc một thành phần của dung dịch tiêm và không dùng trên những bệnh nhân có tiền sử bệnh tự miễn ban xuất huyết giảm tiểu cầu.
Thận trọng lúc dùng
Leucomax chỉ được sử dụng đưới sự giám sát của các bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị ung thư, điều trị những rối loạn chức năng tạo máu và những bệnh nhiễm trùng.
Những phản ứng quá mẫn nặng cấp tính (phản vệ, phù, co thắt phế quản) hiếm khi xảy ra trên những bệnh nhân dùng Leucomax. Nếu những phản ứng như vậy xảy ra, nên ngừng ngay việc điều trị Leucomax và tiến hành những trị liệu thích hợp.
Leucomax hiếm khi gây ra hội chứng viêm đa thanh mạc được đặc trưng bởi viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, viêm màng ngoài tim, tràn dịch màng tim và tăng cân. Hội chứng này xảy ra từ đầu khi dùng liều cao hơn so với liều chỉ dẫn. Các triệu chứng thường có thể kiểm soát được bằng việc sử dụng các thuốc kháng viêm không stéroide và/hoặc ngưng dùng Leucomax.
Ít khi gặp, trên những bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh hô hấp, một phản ứng có thể xảy ra trong ṿng 30 - 90 phút sau khi dùng liều Leucomax đầu tiên. Phản ứng này bao gồm giảm 20 - 30 mmHg độ băo ḥa oxy trong máu tĩnh mạch và có thể kèm theo cảm giác bốc hỏa, vă mồ hôi và hạ huyết áp. Các triệu chứng thường sẽ mất đi khi bệnh nhân được giữ ở tư thế nằm ngửa và cho thở oxy nếu cần thiết. Những triệu chứng này thường là không xuất hiện lại khi tiếp tục dùng thuốc.
Khi sử dụng đồng thời Leucomax với Zidovudine hoặc các thuốc gây độc cho tế bào thường dùng trong hóa trị liệu chống ung thư, hiện tượng giảm tiểu cầu thỉnh thoảng có gặp khi liều dùng Leucomax nằm trong giới hạn. Do vậy, cần theo dơi đều đặn công thức máu.
Ở những bệnh nhân có hội chứng rối loạn sinh sản tủy xương th́ tỷ lệ chuyển thành bệnh leucémie rơ rệt cũng tương đương giữa các bệnh nhân được điều trị bằng Leucomax và những bệnh nhân ở nhóm đối chiếu không dùng. Tuy nhiên phải hết sức chú ư theo dơi máu ngoại vi và tủy xương ở nhóm bệnh nhân này.
Những xét nghiệm : ngoài những xét nghiệm thông thường yêu cầu theo dơi trên người bệnh, cần đếm toàn bộ huyết cầu, bao gồm công thức bạch cầu và số lượng tiểu cầu, nên làm trước khi bắt đầu điều trị và sau đó theo dơi định kỳ đối với tất cả các bệnh nhân dùng Leucomax.
Sử dụng cho trẻ em : tính an toàn và hiệu quả của Leucomax chưa được xác định với những bệnh nhân dưới 18 tuổi.
Sử dụng cho người già : không thấy khác nhau về sự dung nạp của Leucomax giữa các bệnh nhân lớn tuổi và bệnh nhân trung niên.
Ảnh hưởng trên khả năng sinh sản : những nghiên cứu trên người để chứng minh ảnh hưởng của thuốc lên khả năng sinh sản chưa được tiến hành.
Lúc có thai
Tính an toàn của Leucomax sử dụng cho các phụ nữ có thai chưa được xác định. Việc đánh giá trên những thực nghiệm ở súc vật đă cho thấy độc tính đối với sinh sản. Trên những mẫu nghiên cứu ở loài linh trưởng, sử dụng Leucomax có gây ra sảy thai tự nhiên với liều 6-10 mcg/kg/ngày, nhưng lại có sự dung hợp đối với thai nghén ở liều dùng 3 mcg/kg/ngày. Leucomax chỉ nên sử dụng trong thời gian có thai nếu như những lợi ích có thể đem lại cho người bệnh bào chữa được cho những nguy cơ tiềm tàng đối với thai nhi.
Lúc nuôi con bú
C̣n chưa biết rơ liệu Leucomax có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Tuy nhiên, v́ những tác dụng không tốt có thể xảy ra đối với trẻ, các bà mẹ nên ngưng cho con bú trước khi dùng Leucomax.
Tương tác thuốc
Trên những bệnh nhân AIDS đang dùng thuốc chống virus hoặc những bệnh nhân ung thư đang dùng thuốc gây độc cho tế bào đôi khi thấy có hiện tượng giảm tiểu cầu. Nó biểu lộ sự không dung nạp đối với hệ thống tạo máu và có thể tránh bằng cách hạ thấp những liều hóa trị liệu.
Tuy nhiên, khả năng có hiện tượng tương tác thuốc hoặc độc tính của Leucomax không thể được loại trừ hoàn toàn.
Tác dụng ngoại ư
Phần lớn những tác dụng phụ gặp trên những nghiên cứu lâm sàng là chỉ ở mức độ nhẹ hoặc vừa phải. Những phản ứng nặng hoặc đe dọa tính mạng rất ít gặp và thường chỉ xảy ra khi dùng những liều cao hơn rất nhiều so với liều chỉ dẫn. Nhiều trường hợp những biểu hiện không thuận lợi báo cáo trong những thử nghiệm lâm sàng không nên quy cho Leucomax v́ thường là không phân biệt được rơ ràng với những ảnh hưởng do bệnh hoặc do những trị liệu phối hợp khác gây ra.
Trong một thử nghiệm đối chứng trên những bệnh nhân được ghép tủy xương, sốt là tác dụng phụ hay gặp nhất được thông báo. Ban đỏ là triệu chứng hay gặp tiếp theo. Các phản ứng phụ ít gặp đă có báo cáo là hạ huyết áp, phù, buồn nôn, đau ngực, đau xương và ỉa chảy.
Những phản ứng sau đây, hiếm gặp trên các nghiên cứu lâm sàng, là những phản ứng nặng tiềm tàng : phản ứng dị ứng, co thắt phế quản, suy tim, loạn nhịp trên thất, hội chứng ṛ mao dẫn, rối loạn tuần hoàn năo, lú lẫn, co giật, khó thở, tăng huyết áp, giảm huyết áp, tăng áp lực nội sọ, tràn dịch màng ngoài tim, viêm màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi, phù phổi, ngất. Hiếm gặp những trường hợp có giảm albumine huyết thanh.
Những mẫu huyết thanh của một loạt bệnh nhân điều trị Leucomax đă được xét nghiệm t́m sự có mặt của các kháng thể. Sau khi điều trị, những huyết thanh có phản ứng dương tính với phản ứng ELISA chỉ nhỏ hơn hoặc bằng 4% người bệnh. Chỉ có một mẫu dương tính ở chuẩn độ thấp, hơn nữa mẫu đó chỉ dương tính bằng thử nghiệm sinh học. Không thấy có những biểu hiện trên lâm sàng.
Liều lượng và cách dùng
Cách dùng
:
Pha thuốc từ Leucomax đông khô : thêm 1 ml dung dịch pha (nước vô khuẩn hoặc ḱm khuẩn) vào lọ Leucomax. Lắc lọ thuốc một cách nhẹ nhàng để làm ḥa tan toàn bộ chất bột thành một dung dịch đẳng trương dùng để tiêm dưới da.
Pha thuốc dùng cho truyền tĩnh mạch : những hướng dẫn việc ḥa tan và pha loăng thuốc phải được tuân thủ một cách cẩn thận để tránh làm hao hụt mất chất rHu GM-CSF như việc làm dính thuốc vào hệ thống dây và lọ truyền.
Phải đảm bảo độ chính xác của liều chuẩn bị dùng cho truyền tĩnh mạch. Việc chuẩn bị phải được bắt đầu với liều 700 mcg hoặc hơn (tới 2000 mcg) chất rHu GM-CSF. Thêm 1 ml dung dịch pha vào lọ thuốc theo sự hướng dẫn như trên. Sau đó dung dịch rHu GM-CSF phải được ḥa tan thêm nữa với 100 ml dung dịch nước muối sinh lư hoặc dung dịch dextrose 5%, cuối cùng tạo ra một dung dịch có nồng độ lớn hơn hoặc bằng 7 mcg/ml. Hơn nữa, túi hoặc chai truyền sử dụng không được vượt quá 100 ml thể tích. Dung dịch này ổn định trong ṿng 24 giờ với nhiệt độ pḥng. Nếu như liều thuốc được chỉ định dùng ít hơn 700 mcg, phần dung dịch thuốc pha thừa ra phải được bỏ đi.
Các loại dây truyền Travenol I.V Administration Set 2C 0001, Intrafix Air và Infusionsgerat R 87 Plus của Đức và Linfosol của Ư có thể được sử dụng với dung dịch này. Người ta cũng đă thấy rằng Leucomax bị dính khá nhiều vào loại dây truyền Port-A-Cath (Pharmacia), do vậy không nên dùng loại dây này.
Dung dịch tiêm truyền phải được quan sát kỹ bằng mắt trước khi dùng xem có bị mất màu hay có những dấu hiệu đặc biệt nào khác không. Dung dịch Leucomax phải không màu đến vàng nhạt.
Liều lượng :
Liều dùng Leucomax thay đổi tùy theo các t́nh trạng của bệnh. Việc định liều là đảm bảo sao cho duy tŕ được số lượng bạch cầu ở mức mong muốn, thường là dưới 10.000/mm3.
Các hội chứng loạn sản tủy/thiếu máu suy tủy : 3 mcg/kg, tiêm dưới da, 1 lần/ngày.
Thông thường nên theo dơi định kỳ 2-4 ngày sự đáp ứng ban đầu đối với điều trị về số lượng bạch cầu.
Sau đó định lại liều dùng sao cho duy tŕ được số lượng bạch cầu ở mức mong muốn, thường là dưới 10.000 mm3.
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải :
- Đơn trị liệu : 1 mcg/kg/ngày, tiêm dưới da, 1 lần/ngày.
- Điều trị phối hợp với Zidovudine hoặc Zidovudine/interferon alfa : 1-3 mcg/kg/ngày, tiêm dưới da, 1 lần/ngày.
Điều trị phối hợp với Ganciclovir : 3-5 mcg/ngày, tiêm dưới da, 1 lần/ngày.
Thông thường cần theo dơi định kỳ 2-4 ngày sự đáp ứng ban đầu về số lượng bạch cầu.
Sau đó cứ 3-5 ngày, định lại liều dùng hoặc vẫn dùng như chỉ định trên để sao cho duy tŕ số lượng bạch cầu ở mức mong muốn là dưới 10.000/mm3.
Hóa trị liệu chống ung thư : Leucomax được sử dụng để đẩy nhanh sự phục hồi ở những bệnh nhân bị giảm bạch cầu do việc điều trị hóa chất gây ra.
5-10 mcg/kg, tiêm dưới da, 1 lần/ngày. Leucomax được chỉ định điều trị trong trường hợp giảm bạch cầu trung tính do điều trị ung thư bằng hóa chất. Leucomax không nên dùng đồng thời với hóa chất. Thuốc nên được bắt đầu sử dụng 1 ngày sau khi ngưng dùng hóa chất và nên dùng trong 7-10 ngày. Sau đó nên ngưng điều trị Leucomax ít nhất là 48 giờ trước khi bắt đầu một đợt điều trị bằng hóa chất tiếp theo.
Nên tiếp tục duy tŕ điều trị Leucomax giữa các đợt điều trị bằng hóa chất trừ khi số lượng bạch cầu vượt quá 10.000/mm3 hoặc khi có những phản ứng phụ do Leucomax gây ra dù đă dùng liều trong giới hạn cho phép. Có thể tăng liều trong các đợt tiếp theo tùy thuộc vào sự đánh giá của bác sĩ về mức độ hồi phục thích đáng số lượng bạch cầu. Điều này được xác định bởi mức độ và tính nhanh chóng của sự hồi phục số lượng bạch cầu.
Trong ghép tủy xương : 5-10 mcg/kg/ngày, tiêm truyền tĩnh mạch trong thời gian trên 4-6 giờ.
Tiếp tục cho đến khi số lượng bạch cầu trung tính bắt buộc là phải ≥ 1000/mm3 trong 3 ngày.
Quá liều
Những trường hợp dùng Leucomax quá liều chưa được đề cập đến nhưng cũng giống như với bất kỳ một hoạt chất dược lư nào, nên điều trị triệu chứng và chú ư theo dơi sát bệnh nhân.
Bảo quản
Bột Leucomax vô khuẩn, được đóng trong lọ thủy tinh type I với nút cao su butyl hoặc halobutyl có ṿng gắn bằng nhôm. Thuốc ổn định trong khoảng 24 tháng nếu giữ ở nhiệt độ 2-8°C và tránh ánh sáng.
Sau khi đă pha thuốc với nước ḱm khuẩn dùng để tiêm, dung dịch Leucomax có thể sử dụng trong ṿng 1 tuần nếu để ở tủ lạnh 2-8°C. Sau khi pha thuốc với nước vô khuẩn dùng cho tiêm, dung dịch Leucomax có thể sử dụng trong 24 giờ khi giữ trong tủ lạnh 2-8°C. Nếu cần thiết, sau khi pha thuốc, Leucomax có thể được làm đông lạnh và nó ổn định trong ṿng 28 ngày.