THĂM DÒ THAI TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN


I. ĐẠI CƯƠNG
Những thăm dò thai trong thời kỳ thai nghén nhằm mục đích xác định sự suy thai hay kém phát triển trong tử cung do nhiều yếu tố khác nhau gây nên. Tuy nhiên, trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén là lúc thai đâ có độ trưởng thành nhất định, có thể sống độc lập được ở ngoài tử cung, nên các biện pháp thăm dò thai càng cần thiết được đặt ra.
Nguy cơ nổi bật của suy thai là do sự giảm sút trao đổi chất chuyển hoá giữa mẹ và con một cách trường diễn, thai bị thiếu oxy ở nhiều mức độ. Cơ chế chính của thiếu oxy là do tuần hoàn giảm, máu đến tử cung và rau ít hơn bình thường, máu trong hồ huyết cũng giảm đi và kết quả là khối lượng oxy cung cấp cho thai không đủ.
Để có thể quyết định điều trị hay lấy thai ra, người ta thường làm các thăm dò thai với hai mục đích:
- Phát hiện triệu chứng và mức độ suy thai.
- Đánh giá sự trưởng thành của thai.
Người ta thường chia các phương pháp thăm dò thai ra làm hai loại: cổ điển và hiện đại.
II. PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ THAI CỔ ĐIỂN
1- Lâm sàng
Thăm khám thai như hỏi bệnh, nghe tim thai, đo chiều cao tử cung, vòng bụng... cũng có thể cho biết được sự phát triển của thai và tim thai,
2. Xét nghiệm
a. Chụp X quang: chụp thai nhi bằng X quang có thể ước lượng được cân nặng và tuổi thai theo chiều dài xương đùi , chiều dài thai theo chiều dài cột sống hông, xem các điểm sinh cốt để xác định thai đã trưởng thành chưa.
b. Định lượng HCG: bình thường lượng HCG vào khoảng 1 vạn đến 5 vạn đơn vị, nếu thấy thấp hơn hoặc giảm dần là một triệu chứng xấu, nhất là trong sáu tháng đầu,

III. CÁC PHƯƠNG PHÁP THẢM DÒ HIỆN ĐẠI
Vì các phương pháp thăm dò thai cổ điển trên chưa đủ để phát hiện các tình trạng bệnh lý của thai, nên trong những năm gần đây, do có tiến bộ của nhiều ngành khoa học nên đã dược ứng dụng vào công tác thăm dò thai có kết quả tốt.
1. Theo dõi tim thai bằng máy
Người ta có thể ghi được điện tâm đồ của thai nhi (tuy khó phân tích, dễ lẫn với điện tâm đồ của người mẹ) nhất là khi chưa vỡ ối, nghe tim thai, ghi nhịp tim đập bằng máy siêu âm (hiệu ứng Doppler).
2. Soi buồng ối
Qua lỗ tử cung có thể đặt một ống soi có nguồn sóng riêng để nhận xét nước ối:
- Nếu trong hay trắng đục là bình thường.
- Nếu có màu hồng là lẫn máu
- Nếu có màu vàng là lẫn bilirubin
- Nếu có màu xanh là có lẫn phân su (do suy thai).
3. Chụp buồng ối
Sau khi rút một ít nước ối, bơm chất cản quang vào buồng ối có thể thấy được hình ảnh của thai nhi và qua đó phát hiện được các dị dạng, nhất là của phần mềm và đường tiêu hoá.
4. Theo dõi thai bằng sỉéu âm
Siêu âm dùng trong sản khoa có lợi là không hại đến thai nhi và sản phụ. người ta thường sử dụng loại real-time (xem hình ảnh tức thời). Dùng siêu âm để do đường kính lưỡng đỉnh của thai một cách thật chính xác (đến 1- 2 mm), qua đó có thể tính ra cân nặng của thai nhi. Nếu mỗi tuần dường kính này tăng dưới l,6mm là thai kém phát triển và không tăng thì thai có thể đã chết. Ngoài ra người ta cũng có thể theo dõi đường kính bụng và chiều dài xương đùi thai nhi. Siêu âm còn dùng để chẩn đoán đa thai, đa ối, thai dị dạng, ngôi bất thường và rau bám thấp, vôi hoá bánh rau, giảm lượng nước ối (trong thai già tháng).
5. Theo dõi bằng tế bào âm đạo
Hình ảnh tế bào âm đạo thay đổi qua các thời gian thai nghén phản ánh hoạt động nội tiết của rau.
- Với thai nghén bình thường: đến cuối thời kỳ thai nghén, tế bào ái kiềm ít đi, chỉ số tế bào ối toan và nhân đông tăng lên.
- Với thai nghén bệnh lý: trong các thai nghén kém phát triển, ngừng phát triển hay già tháng sẽ xuất hiện các tế bào hình tròn loại đáy.
6. Monitor sản khoa
Máy Monitor sản khoa có thể ghi cùng một lúc cả cơn co và nhịp đập tim thai trên một băng giây. Trong thời kỳ chưa chuyển dạ, người ta dùng máy này để làm nghiệm pháp đánh giá mức độ suy thai. Thường áp dụng hai nghiệm pháp sau đây:
a. Nghiệm pháp ocytocin: nghiệm pháp này nhằm mục đích đánh giá khả năng hô hấp của rau. Truyền nhỏ giọt tĩnh mạch dung dịch glucose 5% (500ml) pha với 2 đơn vị ocytocin, Lúc đầu 5 giọt/phút, sau tăng đến 100 giọt/phút.
Thời gian làin nghiệm pháp từ 30 đến 90 phút, nếu thấy thay đổi bất thường nhịp tim là có triệu chứng suy thai.
b. Nghiệm pháp atropin: khi atropin qua rau sang thai sẽ làm thay đổi nhịp tim thai, người ta tiêm vào tĩnh mạch người mẹ từ 1/4 ống đến 1 ống atropin, Khi qua thai, với liều nhỏ nhịp sẽ chậm và liều cao nhịp sẽ nhanh lên:
- Bình thường: nhịp chậm lại sau tiêm được 4-10 phút và sau đó nhanh lên khoảng 10% tần số.
- Bất thường: nhịp chậm kéo dài quá 10 phút và nhịp nhanh không đủ 10% tần số.
-Nếu tim thai không thay đổi: là thuốc không qua rau.
Nghiệm pháp này nhằm đánh giá sự suy rau và thai già tháng.
7. Định lượng HPL (hormone pìacentaire lactogene)
Đây là loại hormon bài tiết từ gai rau. Định lượng nó có thể đánh giá sự phát triển của rau.
- Bỉnh thường: lượng HPL tăng dần với tuổi của thai, khi thai đủ tháng nó vào khoảng 7,4 ± 2,6mg/ml.
- Bât thường, lượng HPL giảm đi khi có dọa sẩy, dọa đẻ non, thai kém phát triển.
8. Chọc ối
Do có thể xác định chính xác được vị trí bánh rau (bằng siêu âm) và điều kiện vô khuẩn tốt, người ta có thể chọc thăm dò buồng ối để lấy nước ối làm xét nghiệm về các mặt:
- Về thể nhiễm sắc: để xác định giới tính của thai, những dị dạng của thai, nhất là khi lần thai trước có bất thường về nhiễm sắc đồ, hoặc mẹ hay bố có nhiễm sắc đồ hình khám hay người mẹ trên 35 tuổi, nhuộm theo Papanicolaou tìm các tế bào đường tiết niệu: không có các tế bào sừng hoá và tiền sừng. Từ tuần 33 - 36 số tế bào tiền sừng nhiều hơn số tế bào sừng hoá và sau tuần 37 số tế bào hai loại này bằng nhau.
- Định lượng crêatinin trong nước ối: lượng créatinin trong nước Ối tăng song song với sự phát triển của thai,
+ Thai đủ tháng: từ 21 - 26mg/lít.
+ Thai chưa đủ tháng: 16mg/lít
- Định lượng bilirubin trong nước ối: khi thai đủ tháng biliru- bin trong nước ối dưới 0,01g; nếu lượng bilirubin tăng dần là bất thường.
- Định lượng alpha - foeto - protein trong nước ối có thể phát hiện các dị dạng về thần kinh.
Thai vô sọ, thoát vị não, màng não và tật nứt đột sống (spina biíìda), nếu các tật này không bị da che phủ. 90% các trường hợp nứt đốt sống có thể phát hiện bằng định lượng alpha - foeto - protein trong nước ối.
- Nuôi cấy tế bào nước ối có thể chẩn đoán giới tính của thai.
- Ngoài ra trong nước ối người ta còn định lượng được nhiều chất khác: tỷ lệ lecithin/ sphingomyelin > 2: phôi thai đã trưởng thành.
Lượng lecithin tăng vào tuần trước 35 - 36, song có thể tăng sớm hay muộn hơn tuỳ thuộc vào sự trưởng thành của mô thượng thận, nổi lên phổi của thai nhi đã trưởng thành. Độ pH, độ bão hoà oxy, đậm độ glucose, acid lactic, calci.