THAI NGHÉN CÓ NGUY CƠ CAO


1. NGUYÊN NHÂN
Trong thời gian thai nghén, cuộc sống của thai nhi phụ thuộc vào người mẹ, phần phụ của trứng và của bản thân thai nhi, khi các yếu tố đó bị thay đổi bất thường đều cố ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi. Sự thay đổi đó do nhiều nguyên nhân.
1. Nguyên nhân do người mẹ
- Điều kiện sinh hoạt, mức sống về vật chất thấp, lao động quá nặng nhọc, môi trường sinh hoạt bị nhiễm độc, nghiện thuốc lá, rượu.v.v..
- Quá trình sinh đẻ không bình thường: người mẹ quá trẻ hay nhiều tuổi quá, đẻ con rạ nhiều lần, mổ đẻ cũ, sẩy thai cũ, khung chậu hẹp, dị dạng sinh dục.
- Có bệnh nội khoa: bệnh tim, gan, thận, phổi, huyết áp cao, thiếu máu và các bệnh nội tiết.
2. Nguyên nhân do phần phụ của trứng
Những bất thường do các phần phụ của trứng có thể đe dọa đến thai nhi như rau bám thấp, rau bong non, viêm các màng rau, đa ối, ít nước ối, sa dây rau...
Thai nghén có nguy cơ cao là những tình huống không thuận lợi cho sự phát triển bình thường của thai nghén, và diễn biến bình thường cùa cuộc đẻ.
Nguy cơ của các tình trạng thai nghén bất thường đó có thể gây nên nguy hại cho thai nhi (suy dinh dưỡng; chết trước, trong hay sau đẻ), cũng như cho người mẹ (tử vong hay di chứng nặng về sau).
Có những yếu tố gây nguy cơ chủ yếu cho mẹ (tắc tĩnh mạch) hoặc chủ yếu cho con (miễn dịch Rh), hay là cả mẹ và con (sản giật, bệnh tim, gan v.v...).
Trong thực tế, do tăng cường khám và quản lý các sản phụ, phòng bệnh và điều trị kịp thời, nguy cơ tử vong mẹ giảm nhiều, điều quan tâm chính là phát hiện các nguyên nhân có thể gây tử vong cho thai nhi. Tuy vậy với những trường hợp có nguy cơ cho cả mẹ và con thì phải quan tâm đến cả quyền lợi của mẹ và thai nhi,
3. Nguyên nhân do thai nhi
Một số yêu tố của bản thân thai nhi có thể có ảnh hưởng xấu đến thai như thai già tháng, dị dạng, nhiễm khuẩn, chửa nhiều thai, các ngôi và kiểu thế bất thường, bất đồng nhóm máu giữa mẹ và con...


II. PHÂN LOẠI THAI NGHÉN CÓ NGUY CƠ CAO


Việc quy định sắp xếp các tình trạng thai nghén có nguy cơ cao hiện nay chưa được thống nhất, còn phụ thuộc vào sự tính toán và đánh giá cụ thể của các trường phái và của từng nước.
Người ta thường xây dựng "bảng điểm" mẫu để đánh giá nguy cơ nặng nhọ cho từng loại yếu tố đó, bảng điểm thường chia làm ba mục:
- Điều kiện kinh tế, xã hội
- Tiền sử sản khoa, tình trạng thai nghén.
- Các bệnh tật kết hợp với tình trạng thai nghén.
Mỗi mục có một số yếu tố chi tiết được cho điểm từ 0 đến 40 điểm. Người thầy thuốc sẽ dựa vào đó để cho điểm vào các mục nói trên khi thăm khám. Nếu tổng số điểm trên 60, hoặc riêng từng mục trên 30 thì được coi là thai nghén có nguy cơ cao. tùy diễn biến của quá trình thai nghén không phải lúc nào cũng theo đúng như dự đoán, song có hơn 2/3 số trường hợp thai đẻ ra chết hay có tổn thương đều gặp ở những trường hợp thai nghén có nguy cơ cao.

III. PHÁT TRIỂN VÀ THEO DÕI

Để có thể giảm được tỷ lệ tai biến trong các trường hợp thai nghén có nguy cơ cao cần phải phát hiện sớm, theo dõi và xử trí kịp thời.
1. Phát hiện
- Phải tổ chức phòng khám đặc biệt để phát hiện và theo dõi các trường hợp nghi có nguy cơ cao,
Phải đánh giá tình trạng thai nghén ngay từ buổi khám đầu tiên, dựa vào bảng điểm có sẵn để phân loại.
Phải có một bộ phận chuyên theo dõi và điều trị các trường hợp thai nghén có nguy cơ cao. Bộ phận đó phải có nhân viên được đào tạo để phục vụ các trường hợp thai nghén có nguy cơ cao.
Cần phải trang bị những phương tiện cần thiết để phát hiện và chẩn đoán:
- Siêu âm.
- Máy soi ối và ánh sáng lạnh
- Điện tâm đồ
- Soi đáy mắt
- Phương tiện hồi sức tại chỗ cho mẹ và thai nhi

- Monitoring sản khoa.
Ngoài ra có sự phối hợp giữa bác sĩ sản khoa, nhi khoa và nội khoa hoặc các chuyên khoa khác trong những trường hợp cần thiết, để theo dõi và quyết định xử trí, nhất là khi co nguy cơ cho người mẹ,
2. Theo dõi
- Thời gian đốĩ với những trường hợp thai nghén bình thường thì trung bình về mặt chuyên môn cần khám 7 - 10 lần nhưng đối với các trường hợp thai nghén có nguy cơ cao cần khám 14 - 15 lần. Tuy không thể quy định cụ thể, song từ tuần thứ 28 trở đi các trường hợp thai nghén có nguy cơ cao cần khám 15 ngày 1 lần.
- Các thăm dò cần làm: ngoài các thăm khám lâm sàng thông thường về sản khoa, cần làm các xét nghiệm để đánh giá sự suy thai mạn tính trong tử cung và sự trưởng thành của thai.
+ Phát hiện suy thai: định lượng estriol, nghiệm pháp ocytocin, đo đường kính lưỡng đỉnh của thai nhi bằng siêu âm, xét nghiệm tế bào âm đạo.
+ Đánh giá sự trưởng thành của thai nhi bằng siêu âm.
+ Tìm điểm cốt hoá của thai nhi bằng X quang.
+ Định lượng creatinin trong nước ối, tìm tế bào da cam.
Đó là những thăm dò được coi là có giá trị cao, dễ thực hiện và thường dược áp dụng.

IV. XỬ TRÍ

Tuỳ theo diễn biến lâm sàng mà quyết định cách xử trí.
1. Diễn biến bình thường
Nhiều trường hợp thai đẻ ra khoẻ mạnh không cần phải can thiệp, nhưng việc theo dõi trong thời kỳ có thai vẫn phải làm đầy đủ như mọi trường hợp thai nghén có nguy cơ cao khác.
2. Diễn biến bất thường
Đa số các trường hợp là do nguyên nhân người mẹ có bệnh (tim, phổi, thận V. V..), do đó cần chăm sóc và điều trị tốt cho người mẹ (nghỉ ngơi, dùng thuốc, ổn định tinh thần).

Truyền dung dịch glucose ưu trương cho người mẹ để bổ sung tình trạng thiếu dự trữ glucose ở thai nhi do thiếu oxy máu.
3. Có biểu hiện suy thai
Người thầy thuốc phải đánh giá được mức độ suy thai và mức độ trưởng thành của thai bằng các phương pháp thăm dò.
- Nếu thai suy nhưng chưa trưởng thành: tích cực điều trị bằng nội khoa là chủ yếu (theo nguyên nhân), bỏ thuốc lá, rượu, chế độ ăn nhiều protein ( > 80g/ngày) và 2400calo.
- Nếu thai suy và đã trưởng thành
+ Thai suy vừa, nhưng chưa hoàn toàn đủ tháng; điều trị nội khoa và tiếp tục thăm dò thêm, nếu không thể giữ thai lâu được hơn nữa thì phải lấy ra.
+ Thai suy và trưởng thành: lấy thai ra bằng đẻ chỉ huy hay mổ lấy thai.