NGÔI CHỎM


I. ĐẠI CƯƠNG NGÔI CHỎM


Ngôi chỏm là ngôi đầu cúi, thường gặp nhất trong các ngôi ở thời kỳ chuyển dạ. Với ngôi chỏm đa số có thể đẻ thường, song nếu ngôi cúi không tốt, kiểu thế sau hoặc có những sự cố bất thường - nào khác ở tử cung hay phần phụ, đều có thể gây đẻ khó.


II. CÁC KIỂU THẾ NGÔI CHỎM


Điểm mốc của ngôi là thóp sau. Tuỳ theo vị trí của thóp sau tương ứng với khung chậu (mào chậu lược và khớp cùng cụt của khung chậu) mà ta có 4 kiểu thế:
- Chỏm chậu trái trước 60%.
- Chỏm chậu phải sau 30%
- Chỏm chậu trái sau 6%
- Chỏm chậu phải trước ít gặp.


III. CHẨN ĐOÁN NGÔI CHỎM


- Nhìn: tử cung hình trứng, trục nằm theo chiều dọc.

- Sờ: thấy khối đầu (tròn và rắn ở phía dưới, khối mông mềm ở đáy tử cung, lưng ở một bên, các chi ở phía đối diện).
- Nghe: tim thai ở ngang mức mỏm vai của thai nhi.
- Khám âm đạo: thóp sau hình A. là điểm mốc của ngôi.

IV. THEO DÕI NGÔI CHỎM


Khi có chuyển dạ chính thức phải theo dõi độ mở, độ lọt của đầu thai nhi và tình trạng của thai nhi.
Theo dõi độ mở cổ tử cung: ngoài việc xem tử cung mở được mấy phần, cần xem ảnh hưởng của cơn co đối với độ mở, xem cổ tử cung mềm, mỏng hay cứng, dày.
Đầu ối dẹt hay phổng, màng ối dày hay mỏng. Khi ối vỡ phải xem màu sắc của nước ối, xem có sa cuống rau hay chi của thai không, tim thai có thay đổi gì không.
Theo dõi tiến triển của ngôi thai: ngôi chỏm muôn lọt được nhanh và tốt. cần phải có đầu cúi. Muốn xác định vị trí đầu cúi thì xem vị trí của thóp sau đối với cổ tử cung, Nếu thóp sau ở giữa cổ tử cung là cúi tốt, ở lệch về một phía của cổ tử cung là cúi chưa tốt..
Khi lọt, nếu đầu to ngôi sẽ lọt lệch (lọt từng bướu đỉnh một). Do đó, nếu thấy đường giữa bướu lệch về một bên là ngôi lọt lệch, nếu lệch về phía sau là bướu đỉnh trên lọt trước và ngược lại nếu lệch về phía trước là bướu đỉnh dưới lọt trước.
Khi cho hai ngón tay vào mà không sờ tới mặt trước xương cùng (do ngôi cản trở) là ngôi đã lọt (trừ khi có bướu huyết thanh), hoặc do từ mỏm vai thai nhi đến bờ trên khớp vệ có độ dài 7cm là ngôi đã lọt.
Theo dõi tình trạng thai: bằng cách nghe tim thai, bình thường nhịp tim thai khoảng 140 nhịp/phút, nếu tim thai nhanh (160 - 180 lần/phút) hay chậm hơn (dưới 110 lần/phút) ngoài cơn co là có dấu hiệu suy thai.


V. Đỡ Đẻ Ngôi Chỏm


Khi ngôi đã lọt xuống và sắp sửa sổ, lúc đó người thầy thuốc cần giúp cho thai sổ được dễ dàng.
- Chỉ khi ối đã vỡ, cổ tử cung đã mở hết và ngôi đã lọt mới được cho sản phụ rặn. cần hướng dẫn cho sản phụ rặn khi có cơn co (rặn hơi dài). Giữa các cơn co phải theo dõi nhịp tim thai.
- Khi hạ chẩm đã sổ ra dưới khớp vệ, người thầy thuốc sê giữ cho đầu thai nhi ngửa từ từ để cho đầu sổ hết, lúc này bảo sản phụ không nên rặn nữa để tránh rách tầng sinh môn. Sàng thấy vệt rạn ở mép sau âm hộ thì nên cất tầng sinh môn để tránh bị rách. Sau khi đầu sổ thì quay 90° đe cho đường kính lưỡng vai dưới trùng với đường kính trước sau của eo dưới, rồi kéo xuống dưới để cho vai trước sổ tiếp theo đó là thân sẽ ra dễ dàng.

- Khi thai đã sổ xong, đặt thai lên bụng người mẹ dùng ống hút, hút đờm dãi ở mũi, họng và cắt rốn giữa hai kẹp. Sau khi lau sạch chất bẩn và nhớt, nhỏ mắt cho thai nhi bằng dung dịch clorocid 2 phần nghìn ,buộc rốn, sát khuẩn và băng rốn. Đo chiều cao, cân nặng, vòng đầu thai nhi, phát hiện các dị dạng của thai nhi (chú ý dị dạng không có hậu môn).
- Trong mọi trường hợp cần đánh giá tình trạng thai nhi và cho điểm theo chỉ số Apgar.
Bảng 1. Chỉ số Apgar

  0 1 2
Nhịp tim Không có < 100, tim chậm > 100, tim nhanh
Phản xạ gan chân Không có Phản xạ ít Phản xạ mạnh và khóc
Thở Không Yếu Mạnh và khóc to
Trương lực cơ Nhẽo Gấp yếu chi Gấp mạnh các chi
Màu da Tím hay trắng Hồng, đầu chi tím Hồng đều

- Đánh giá chỉ số Apgar sau đẻ 1 phút và 5 phút.
- Chỉ số Apgar sau 5phút nói lên đáp ứng của thai với cuộc sống ngoài tử cung.
- Chỉ số Apgar 0 - 3 ở phút thứ 5 sẽ bị chết.
- Sản phụ dược theo dõi mạch, huyết áp, co hồi tử cung và chảy máu âm đạo.
- Sau 30 - 45 phút rau sẽ bong và sổ, nếu rau không bong thì phải bóc rau và kiểm soát tử cung.
- Với các ngôi kiểu sau (CCTS, CCPS) ngôi phải quay 135°, do đó cuộc đẻ thường kéo dài, chưa kể là các ngôi kiểu sau đầu thường cúi không tốt.
Nhiều khi sự quay của ngôi nửa chừng bị ngừng lại, lúc đó bắt buộc phải can thiệp giúp cho đầu quay bằng cách tỳ hai ngón tay vào sau tai thai nhi, và quay trong cơn co theo chiều quay của thai, nếu không có kết quả thì phải lấy thai bằng foócxép hay giác hút (nếu đủ điều kiện).