CHỬA NHIỀU THAI


Chửa nhiều thai là sự phát triển của nhiều thai cùng một lúc trong tử cung: đó là một sự thai nghén dị thường nhưng không phải bệnh lý. Theo Nelin (1895) đẻ sinh đôi có tỷ lệ 1/89, sinh 3 có tỷ lệ lệ 1/89^2 và sinh tư là 1/89^3 so với số trường hợp đẻ.
Chửa nhiều thai có thể do nhiều trứng cùng thụ tinh hay một trứng thụ tinh và phân chia ra nhiều thai.

I- CHẨN ĐOÁN CHỬA NHIỀU THAI

- Dấu hiệu cần chú ý là chiều cao tử cung và vòng bụng quá lớn. ’
- Trong những tháng đầu, do thai còn nhỏ, tử cung chưa to nhanh nên dấu hiệu lâm sàng chưa rõ, chỉ thấy các hiện tượng như nghén nhiều, thai đạp về mọi phía.
- Từ tháng thứ sáu trở đi dễ chẩn đoán hơn vì tử cung to nhanh, kèm theo là các dấu hiệu phù, giãn tĩnh mạch và sản phụ mệt mỏi nhiều, thiếu máu.
- Khi khám sờ thấy có nhiều cực hay nhiều chi hơn, nghe được nhiều ổ tim thai (nhịp tim thai khác nhau ở các ổ từ 10 nhịp trử lên).
- Có thể xác định được chửa nhiều thai bằng cách chụp X quang (từ tháng thứ 8 trở đi) hoặc dùng siêu âm hai chiều (B.Scan).


II. TIẾN TRIỂN CHỬA NHIỀU THAI


Trong khi có thai, có thể có những tiến triển sau:
l. Thai chết
Một hay nhiều thai có thể bị chết hay sẩy. Thai chết có thể tan hay khô đét lại.
2. Đẻ non
- Do tử cung căng quá mức
- Do nhiều nước ối
- Do diện rau rộng gây nên rau tiền đạo
3. Đa ối
(Cần chứ ý phát hiện quái thai).
4. Nhiễm độc
Có thể gặp 1/5 số chửa nhiều thai,
5. Rối loạn cơ năng về phía người mẹ
Rối loạn tuần hoàn, nhịp thở, nhu động ruột, giãn khớp vệ, phù.
6. Trong thời kỳ chuyển dạ và khi đẻ
Có thể kéo dài và khó khăn hơn, do tử cung bị giãn quá nhiều, cơn co trở nên ít tác dụng.
- Thời kỳ mở của cổ tử cung bị kéo dài.

- Ối vỡ non
- Thai mắc vào nhau, sự bình chỉnh của ngôi thai không tốt.
- Sa dây rau
- Chảy máu sau đẻ


III. TIÊN LƯỢNG CHỬA NHIỀU THAI


1. về phía mẹ
Tỷ lệ tử vong thường tăng gấp 3 so với chửa một thai (do sốc vì chảy máu, sản giật, đẻ khó).
2. về phía con
Thường xấu hơn, thai bị chết trước và trong chuyển dạ tăng gấp 5 lần (sa dây rau, rau quấn cổ, thắt nút, bong rau sớm, thai non yếu, nhiễm khuẩn...).


IV. XỬ TRÍ CHỬA NHIỀU THAI


Cần phát hiện sớm để tránh biến chứng khi có thai và các sang chấn khi đẻ.
1. Trong khi có thai
Vệ sinh ăn uống để tránh nhiễm độc thai nghén, nghỉ việc sớm hơn và nhất là khi có biến cố, nên vào viện từ tuần thứ 36 trở đi.
2. Trong khi chuyển dạ
- Phải thận trọng khi sử dụng các thuốc tăng và giảm cơn co.
- Nếu thai thứ nhất chậm sổ nên làm foócxép lây ra, Sau đó khám lại thai thứ hai, nếu là ngôi dọc, đợi 15 - 20 phút cho cơn co tử cung trở lại rồi bấm ối, nếu sổ khó khăn thì nên can thiệp thủ thuật sớm, để tránh tai biến suy thai. Nếu sau 20 phút mà không có cơn co tử cung phải truyền vào tĩnh mạch dung dịch glucose 5% pha với ocytocin 5đv QT.
- Nếu là ngôi ngang phải nội xoay ngay và lấy thai ra luôn.
- Sau khi các thai đã sổ, nên cho thuốc co hồi tử cung (ocytocin) để đề phòng băng huyết sau khi sổ rau.
- Sau đẻ phải kiểm tra xem có sót rau và thai có bị dị dạng không. Sau đó nên tiêm ergotin vào bắp để đề phòng đờ tử cung sau đẻ.