ĐIỀU TRỊ APXE PHỔI TRẺ EM


PGS. Đặng Phương Kiệt

Apxe phổi là một vùng hoại tử có.chứa mủ của như mô phổi.

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH APXE PHỔI Ở TRẺ

1. Nhiễm khuẩn gây hoại tử (thường gặp nhất)
• Vi khuẩn sinh mủ (tụ cầu, Klebsiella, liên cầu, xoắn khuẩn, cầu khuẩn kị khí, vv...).
• Lao.
• Nấm.

• Kí sinh trùng: amip, sán lá phổi.
2. Nhồi máu tạo thành hang
• Tắc mạch nhẹ.
• Tắc mạch nhiễm khuẩn.
3. Bệnh ác tính tạo thành hang
• Carcinoma tiên phát phát sinh từ phế quản.
• Di căn (rất hiếm).
4. Kén phổi nhiễm khuẩn

CHẨN ĐOÁN APXE PHỔI Ở TRẺ

Lâm sàng
• Khởi phát âm thầm, sốt cao, ăn kém, sụt cân, khó thở dần.
• Ho và khạc đờm thối lẫn máu và nhiều mủ, thường xuất hiện trong khoảng 10 ngày sau ở người không được điều trị, đau ngực, có thể khum móng.
• Hội chứng kết đặc ở phổi, gõ đục, nghe có tiếng ran ẩm, tiếng thổi vò hoặc tiếng thổi hang, rì rào phế nang giảm.
Xét nghiệm
Bạch cầu đa nhân trung tính tăng, hemoglobin giảm và giảm protein máu nếu sốt kéo dài nhiều tuần.
Đờm chứa nhiều bạch cầu đa nhân, nhuộm Gram thấy các cầu khuẩn và khuẩn hình gậy Gram dương và các khuẩn hình gậy Gram âm đủ loại kích thước và hình dạng. Vì đờm khạc ra khó tránh khỏi bị lây nhiễm vi khuẩn chí kị khí bình thường khu trú trong miệng nên muốn có kết quả chính xác thì phải chọc hút đờm qua khí quản hay qua thành ngực (với trẻ lớn).
Nếu có tràn dịch màng phổi thì chọc dò và nuôi cấy dịch màng phổi. Hình ảnh X quang lồng ngực
Điển hình là một bóng mờ có giới hạn rất rõ hoặc một hình hang, trên có túi hơi hoặc không nằm trên mức nước. Cần phân biệt với các bóng hai hoặc nang bị nhiễm khuẩn hoặc một tích mủ màng phổi có lỗ rò phế quản-phế mạc.
Các hang apxe khu trú trong các phân thùy sau và trên của các thùy dưới, nhất là bên phải khi chụp ở tư thế nằm hoặc phân thùy đáy của thùy dưới nếu chụp ở tư thế đứng.

ĐIỀU TRỊ APXE PHỔI Ở TRẺ

1. Liệu pháp kháng sinh đặc hiệu
Thường dùng Penicillin 100.000-200.000 đơn vị/kg/24 giờ, trong 4-6 tuần; hoặc Cloramphenicon liều không đáp ứng với Penicillin; hoặc có thể dùng Clindamycin và Metronidazon.
2. Liệu pháp hỗ trợ
Dẫn lưu bằng tư thế và vỗ rung lồng ngực. Soi phế quản chỉ nên thực hiện khi cần lấy dị vật. Dùng ống dẫn lưu mủ qua lỗ mở thành ngực thường được thực hiện nếu có kèm theo tích mủ màng phổi.
3. Giải phẫu cắt bờ thùy phổi chỉ thực hiện khi ho ra máu ồ ạt, nhiễm khuẩn dai dẳng, giãn phế quản có triệu chứng rõ hoặc một bệnh ác tính.