VẾT THƯƠNG SỌ NÃO HỞ

 

1. Nguyên nhân vết thương sọ não hở

Do chém, búa hay rìu bổ vào đầu

Do tai nạn lao động như phoi tiện bắn vào đầu, hoặc ngã đập đầu vào đá hay vật rắn.

Do thương tích chiến tranh: đạn, mảnh kìm khí, các ỉoại mảnh bom bi.

2. Các loại thương tích

Ngoài vết thương da đầu, có thể thấy hoặc xương sọ bị tổn thương đơn thuần, hoặc kèm theo rách màng cứng và tổn thương ở não.

a. Xương bị nứt rạn: khám vết thương da đầu không thấy não hay nước não tuỷ chảy ra ngoài. X quang thấy đường nứt rạn ở sọ. nếu có rối loạn trì giác thì cần khoan sọ để kiểm tra xem có máu tụ hoặc rách màng cứng hay không.

b. Lún xương sọ: nếu xương lún quá độ dày của xương thì nâng xương lún lên. Khoan một lỗ ử bờ ngoài vào xương không bị lún. Dùng cái nậy để nậy; xương lên. ở trẻ con, lún như kiểu lún bóng băn thì nậy rât dê. ở người lớn nếu cần thì gặm quanh bờ xương lún đủ để nhấc xương lên. Nếu xương bẩn hay rời ra rồi thì bỏ đi. Màng não có thể còn nguyên vẹn, hoặc rách kèm giập não. Để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn, cần khâu kín màng não. Khâu hai lớp trên miếng cao su dẫn lưu.

c. Nhiều mảnh xương đi sâu vào não: thấy não phòi ra ngoài. Não ở vùng đó bị giập nát. Mổ lấy não giập, máu cục và những mánh xương. Nếu có điều kiện mổ tốt, nên đóng kín màng cứng rồi khâu da hai lớp.

d. Vết thương chiến tranh do dạn, mảnh kim khí:

Đạn đi tiếp tuyến với xương sọ: nhìn ngoài chỉ thấy xương bị rạn, không có lún xương, nhưng lớp xương sọ có thể bị vỡ nặng, mảnh xương đi sâu vào trong mỏ não.

Vết thương làm hư hại não lớn: xương bị vỡ nứt chung quanh, nhiều mảnh xương đi sâu vào trong mô não kèm theo những mô bẩn ở ngoài vào. Đạn hay mảnh đạn có thể nằm sâu trong não. Người ta gọi đó là vết thương chột.

Vết thương xuyên thủng sọ: lỗ vào nhò, lỗ ra to. Đây là loại thương tích rất nặng gây giập não lớn.

Vết thương nhỏ do hoá khí: một mảnh bom bi hay một viên bi có thể để lại một vết thủng bằng hạt ngô, hạt thóc ở xương sọ, nhưng bên trong não có thể bị hư hại nhiều, hoặc gây máu tụ như trong chấn thương sọ não kín. Có thể có nhiều mảnh nhỏ bắn vào trong não rất khó lấy ra.

Những vết thương đặc biệt: có ba loại thương tích sau đây khá nguy hiểm:

Vết thương xoang tĩnh mạnh dọc trên: nếu rách xoang tĩnh mạch, máu không cầm được thì thường nạn nhản chết ngay tại chỗ. Đôi khi mảnh xưưng làm thủng xoang nhưng lại chỉt lỗ rách, nên máu không chảy. Nếu như không có kỹ thuật tốt, khi nhấc mảnh xương lên mà không cầm được máu thì nạn nhân có thể chết trên băn mổ.

Vết thương xoang hơi trán: thường gặp ở người lớn vì à trẻ em xoang hơi thường nhò. Nếu chỉ vờ thành trước thì ít nguy hiểm. Nếu vỡ cả thành sau gây rách màng cứng thì có nguy cơ viêm màng não mủ do nhiễm khuẩn từ hô mũi lên.

Vết thương não thất: ngoài những nguy cơ do tổn thương các mô não, còn có nguy cơ viêm não thất, rò nước não tuỷ ở vết thương, và làm tắc đường lưu thông nước não tuỷ do máu đông nằm trong não thất thứ ba.

3. Lâm sàng vết thương sọ não hở

Trước khi khám vết thương ở đầu, cần chú ý tới tình trạng chung. nếu người bệnh bị sốc, phải truyền huyết thanh và máu. Nếu bị kích thích, giãy giụa thì dùng bromur natri 1-2 g, tiêm tĩnh mạch, luminal 0,20 g tiêm bắp. Đôi khi có thể dùng largactil, dimedrol. Tránh dùng morphin, dolargan.
Muốn đánh giá tiên lượng hoặc đánh giá tổn thương ở não nặng hay nhẹ, ở sâu hay nông, ta có thể dựa vào tri giác của người bệnh. Một vết thương có thể nhỏ nhưng người bệnh có thể mê nặng vì mảnh kim khí có thể làm tổn thương những vùng ở sâu trong não. Trái lại một vết thương rộng lớn, nào phòi ra ngoài (như bị chém), có thể không gây hôn mê vì chỉ có tổn thương nông ở ngoài vỏ não.
Muôn khám một Vết thương ở đầu, cần cạo tóc rộng chung quanh Vết thưưng, hoặc tốt nhất ỉà cạo trọc đầu, có như vậy mới phát hiện được những Vết thương chỉ nhỏ bằng hạt thóc. nếu thấy não phòi ra ngoài, thì chắc chắn có tổn thương thâu não. Có khi phải mổ kiểm tra màng cứng mới biết rõ một vết thương có thấu não hay không,
Cần chú ý tới vị trí vết thương xem có nguy hiểm hay không. Nguy hiểm nhất là vết thương ớ đường giữa sọ} theo xoang tỉnh mạch dọc, có thể làm rách xoang, gây chảy máu nặng khi mổ. vết thương vào vùng trán, giữa hai lông mày, có thể làm vỡ xoang hơi trán, rách màng cứng, mổ không tốt có thể gây viêm màng não mủ. Vết thương vào vùng vận động gây liệt nửa người bên đối diện. Tổn thương vào vùng đỉnh trái gây rối loạn ngôn ngữ.

Về các triệu chứng thần kinh thì tuỳ vùng não bị tổn thương mà có những dấu hiệu khác nhau. Trên thực tế, ta cần chú ý tới tổn thương vùng bó tháp gây liệt nửa người bên đối diện.
nếu hôn mê sâu, không phản ứng khi kích thích đau, thở nhanh, sốt cao, thì mổ thường có tiên lượng xấu vì có tổn thương nặng ở sâu trong não.
X quang cho thấy mảnh kim khí, đường vỡ, lún xương và các mảnh xương vụn.

4. Phẫu thuật vết thương sọ não hở


Chỉ định mổ là nhất thiết, trừ những trường hợp có mảnh nhỏ đi từ dưới vào sọ lên não.
Mổ gặm rộng, mở màng cứng, lấy bỏ não giập, máu cục, và các mảnh xương vụn, rồi cầm máu tốt bằng dao điện và huyết thanh nóng. Đóng kín màng cứng, nếu thiếu thì dùng cân cơ thái dương vá thêm. Nhất thiết phải đóng da hai lớp trên một ống dẫn lưu. Nếu thiếu da, khâu căng thì phải xoay vạt da để khâu kín vết thương, vì khâu căng, vết thương dễ bị toác, rò, có nguy cơ nhiễm khuẩn, dễ dẫn đến tử vong.
Sau mổ, ngoài thuốc kháng sinh và vitamin, cần cho thuốc chống phù não như huyết thanh ngọt ưu trương, dung dịch urê 20%, hay manitol 20% (l-2g/kg cơ thể), các loại corticoid, lasilix.
Đối với những vết thương cạnh xoang tĩnh mạch dọc, phải chuẩn bị nhiều máu để khi cần có thể hồi phục lại nhanh chóng. Lấy một miếng cơ thái dưưng đập giập để cạnh, phòng khi cần có thể' chỉt vào chõ rách. Gặm rộng xương xung quanh. Rút mảnh xương lún vào xoang sau cùng. Chỉt miếng thịt vào chỗ rách, rồi khâu đính hai mũi vào màng cứng đổ giữ miêng thịt tại chỗ. Đối với những vết thương vào xoang hơi trán, phải gặm cả thành trước và thành sau xoang bị vỡ, nạo niêm mạc trong xoang, dùng miếng cơ chỉt lỗ thông xuống mũi, vá màng cứng nếu làm được. Đóng kín da trên một ông dẫn lưu.