TRÀN MÁU KHỚP

I. ĐẠI CƯƠNG TRÀN MÁU KHỚP

Tràn máu khớp hay gặp sau chấn thương ở các khớp nông như khớp gối, khớp khuỷu, ở các khớp sâu như vai, háng, hoặc khớp có mặt khớp kẹt như cổ chân, cổ tay thì ít gặp tràn máu khớp đơn thuần mà thường gặp gẫy xương thấu khớp, bong gân nặng gây tràn máu khớp.

II. TRIỆU CHỨNG TRÀN MÁU KHỚP

Khớp bị sưng to toàn bộ, các đường cong bị phẳng đi, không rõ nữa. ở khớp gối, sau chấn thương bị tràn máu khớp, khi khám sẽ thấy dấu hiệu điển hình là tiếng chạm xương bánh chè, chứng tỏ trong khớp có dịch. Khi bệnh nhân đến sớm, khớp sưng to thường dễ chẩn đoán. Khi bệnh nhân đến muộn thường khó phân biệt sưng nề với tràn máu khớp, cần chọc thăm dò.


III. ĐIỀU TRỊ TRÀN MÁU KHỚP


Cần chọc kim hút hết máu trong khớp, sau đó bó bột bất động 2 tuần lễ.

Sau chọc hút khớp gối, nên bất động khớp gối với ống bột. Bột khô thì đi lại được.

Sau chọc hút khớp khuỷu nên đặt nẹp bất động khuỷu ở tư thế vuông góc.

Nếu để máu ứ trong khớp thì có thể có 2 biến chứng:

Máu ứ biến thành mủ, gây viêm khớp có mủ, phải mố tháo . mủ, ảnh hưởng đến cơ năng của khớp.

Máu ứ tiêu dần song để lại xơ cứng làm hạn chế cử động khớp.