SỐC

II. ĐẠI CƯƠNG SỐC

Sốc là trạng thái bệnh lý gây nên bởi lưu lượng máu bị hạ thấp kéo dài làm tổn thương các phủ tạng và đe doạ tính mạng của bệnh nhân.

Sốc gây thiếu oxy trong các tế bào, do tuần hoàn trong các mao mạch bị rối loạn, co thắt các cơ tròn trước và sau mao mạch, dẫn đến dông máu rải rác trong lòng các mao mạch, gây nên những tổn thương không hồi phục ở các tạng phủ như thận, gan, ruột, tuỵ, V.V..

II. NGUYÊN NHÂN SỐC

Sốc chấn thương

Sổc chảy máu

Scíc do mất nước trong cơ thể: bỏng, ỉa chảy, nôn nhiều

Sốc tim: nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim gây chèn ép, tắc động mạch phổi.

Sốc nhiễm khuẩn

Sốc dị ưng: các huyết thanh trị bệnh lấy từ huyết thanh súc vật, một số kháng sinh.

Sốc thần kinh: chấn thương sọ não, giập tủy sống, sốc do mổ, gây mê, các thuốc ngủ, an thần.

Sốc nội tiết: thiểu năng thượng thận, bệnh đái tháo dường,

III. TRIỆU CHỨNG SỐC

A. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

1. Mặt xanh xám, toát mồ hôi, bàn tay bàn chân lạnh, xanh

2. Mạch cổ tay nhanh, nhỏ, có khi không bắt được, nhưng mạch đều, mạch cổ vẫn bắt được

3. Huyết áp thấp dưới 70mmHg, khoảng cách giữa tốì đa và tối

thiều hẹp. Nhưng cần chú ý:

- Huyết áp lấy bằng máy đo không chính xác do co thắt của mạch ngoại biên, huyết áp tối thiểu thường khó lấy, những người bị huyết áp cao nếu xuống 100mmHg đã là bị tụt huyết áp.

- Do thích ứng của cơ thể nên huyết áp còn duy trì được một thời gian, tụt huyết áp đã là một dấu hiệu quá chậm để quyết định điều trị.

- Đo huyết áp từ trong lòng động mạch chính xác hơn máy đo.

4. Huyết áp tĩnh mạch trung ương đo ở tâm nhĩ phải, bình thường là 8-10cm H2O. Nếu là sốc do giảm khối lượng máu trong cơ thể, huyết áp tĩnh mạch trung ương xuống tới 0 hoặc 3cm H2O nếu là sốc tim, huyết áp tĩnh mạch trung ương cao trên 10cm H2O.

5. Lượng nước tiểu hàng giờ qua ống dẫn lưu bàng quang. Nếu mỗi giờ đái được 20-30ml là triển vọng tốt, nếu nước tiểu ít trong 6 giờ liền thì triển vọng xấu.

B. CÁC XÉT NGHIỆM SỐC

Số lượng hồng cầu, bạch cầu, hematocrit

Đường huyết, urê huyết tăng

Các chất điện giải: Na+ bình thường, K+ tăng vì từ trong tế bào chuyển ra. Nếu có điều kiện, cần thử:

pH máu để phát hiện tình trạng toan do chuyển hoá

Các khí ở trong máu: 02, CO2.

Các xét nghiệm đông máu

Cấy vi khuẩn máu nếu có tình trạng nhiễm khuẩn

IV. ĐIỀU TRỊ SỐC

A. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ

Điều trị sớm: không chờ tụt huyết áp mà cần ước đoán trên những tổn thương gây sốc (giập nát các chi, bỏng nặng, mất máu) và dựa vào các dấu hiệu lâm sàng.

Điều trị liên tục đến khi hết các dấu hiệu của sốc, không để gián đoạn, ngay cả trong khi di chuyển bệnh nhân.

Tiêm truyền các chất dịch vào tĩnh mạch

B. ĐIỀU TRỊ KHI VÀO BỆNH VIỆN

Đặt một máy đo huyết áp ở tay

Lấy nhiệt độ ở hậu môn

Đặt một ống thông nước tiểu vào bàng quang

Cho thở oxy bằng một ống đặt qua mũi

Đặt một Ống thông đo huyết áp tĩnh mạch trung ương

Đặt máy đo điện tim nếu có sẵn.

C. CÁCH ĐIỀU TRỊ SỐC

1. Căn bản phải tiêm truyền dịch

Tiêm truyền dịch để nâng huyết áp động mạch trở lại bình thường và nước tiểu bài tiết dược 20-30ml mỗi giờ, cho đến khi huyết áp tĩnh mạch trung ương lên tới 12 hay 15cm H2O thì ngừng.

Truyền máu có pha thêm Ca lg cho 1 lít máu, nếu là sốc mất máu.

Các dung dịch có trọng lượng nguyên tử cao (huyết tương, dextran) nên dùng hạn chế.

Các huyết thanh mặn và ngọt

Để chống toan chuyển hoá, cho truyền T.H.A.M, hoặc huyết thanh có pha 14% bicarbonat natri,

2. Các thuốc co giãn mạch

A. Ở các chuyên khoa: trong trường hợp sốc có huyết áp tĩnh mạch trung ương cao mà không chịu đựng được isoprenalin (isuprel), thì có thể cho chất nội tiết của tuỵ (glucagon) 0,010-0,080g pha trong 500ml huyết thanh ngọt 10% hay 15%, mỗi giờ cho 2mg, vì nếu dùng các huyết thanh như thường lệ dễ gây phù phổi cấp.

B. Không nên dùng noradrenalin (a recepteur) ở giai đoạn đầu của sốc (giai đoạn tiết adrenalin) và các mạch dã bị co thắt: mà nên sử dụng isoprenalin (|3 stimulant), hoặc dopamin, hoặc dobu- tamin, để làm giãn mạch ngoại biên. Nhưng ở giai đoạn muộn của sốc (giai đoạn cholinergique gây giăn mạch) sau khi đã dùng isoprenalin hay metaraminol (aramin) thì cần chú ý là các thuốc này có thể gây vô niệu nếu chưa truyền dịch đầy đủ.

3. Các thuốc khác

A. Heparili: 3 đến 5mg/kg/24 giờ, sử dụng trong trường hợp nhồi máu cơ tim, hoặc có đông máu rải rác trong lòng động mạch.

B. Hemisucinat hydrocortison: l-2g/24 giờ trước khi truyền dịch tiêm truyên cùng lúc với isuprel cho những bệnh nhân có co thắt tuần hoàn ngoại vi. Đề phòng loét chảy máu đường tiêu hoá.

C. Oxỵ: có khi phải cho qua ống nội khí quản hay máy thở.

D. Trong Bốc nhiễm khuẩn gram (-): cho kháng sinh gentamycin + cephalosporin, rồi điều chỉnh loại kháng sinh thích hợp dựa theo kháng sinh đổ.

E. Trong sốc do dị ứng: tiêm dưới da 0.5ml adrenalin 1/1000 hoặc tiêm thuốc chống histamin + 0,050 hydrocortison, hoặc 2-4 g acid amini-caproic (hemocaprol).