LỒNG RUỘT Ở TRẺ EM CÒN BÚ

I. ĐẠI CƯƠNG LỒNG RUỘT Ở TRẺ EM CÒN BÚ

Lồng ruột hay gặp ở trẻ em còn đang bú sữa mẹ, bụ bẫm từ 3 đến 12 tháng tuổi.
Lồng ruột đến sớm có thể tháo lồng bằng thụt hơi, thụt baryt dưới X quang, đến muộn phải mổ để tháo lồng, đến muộn quá thì phải cắt đại tràng, dễ tử vong.

II. CHẨN ĐOÁN LỒNG RUỘT Ở TRẺ EM CÒN BÚ

Dựa vào các dấu hiệu và triệu chứng sau:

a. Đau: trẻ đang chơi, khoẻ mạnh, bỗng khóc thét, quằn quại, giãy giụa; sau vài phút dịu đi rồi 15 phút, nửa giờ hoặc một hai giờ sau lại khóc thét.

Đó là những cơn đau cách quãng, phải nghĩ tới lồng ruột.

b. Nôn: nôn ngay trong cơn đau đầu tiên, trẻ bỏ bú không chịu ăn. Hết cơn trẻ lại bú lại, nhưng rồi lại nôn

Đau từng cơn + nôn + bỏ bú = lồng ruột (sớm)

c. ỉa ra máu: có vài vết máu đỏ thẫm dây ra tã, hoặc máu lầy nhầy. Thường thì 6-8 giở sau cơn đau đầu tiên mới ỉa ra máu, hoặc thăm dò hậu môn thấy máu theo tay.

Đau từng cơn + nôn + ỉa ra máu = lồng ruột (muộn)
Ba dấu hiệu trên có thể giúp chẩn đoán là lồng ruột.

d. Nắn bụng có phản ứng: có khi chỉ thấy phản ứng một vùng ở thành bụng, có khi thấy khối lồng dễ dàng khi trẻ em nằm im, không khóc.

Ở giữa bụng, trên rốn sờ thấy khối lồng dỗ dàng khi trẻ nằm im, không khóc

ở giữa bụng, trên rốn sờ thấy khối lồng rõ hơn

Có khi khối lồng sang tận hố chậu trái, khi thăm dò hậu môn, ngón tay có thể đụng vào đầu khối lồng.

Sờ thấy khối lồng: có thể khẳng định là lồng ruột, nhưng có tới 50% các trường hợp không thấy khối lồng.

Vì vậy phải chụp X quang để phân biệt với viêm ruột cấp tính ở trẻ em.

III. THÁI ĐỘ XỬ TRÍ LỒNG RUỘT Ở TRẺ EM CÒN BÚ

1. Tháo lồng bằng hơi hoặc bằng baryt dưới X quang

Phương pháp này vừa là để chẩn đoán, vừa là để điều trị.

a. Tháo lồng bằng baryt ở áp lực thấp: khi soi thấy rõ mới chụp

Dấu hiệu X quang: đại tràng bị cắt cụt, hình căng cua, hình nhiều vòng tròn đồng tâm, đáy chén.

Dấu hiệu dã tháo lồng: thấy ro ở bờ manh tràng thuốc sang hồi tràng dễ và rõ.

Tai biến do thụt baryt gây nên: vỡ đại tràng, baryt chảy vào Ổ bụng rất nguy hiểm.

b. Tháo lồng bằng hơi: thực hiện trước 24 giờ, 80-90% có kết quả (Bệnh viện Việt Đức).

Dấu hiệu X quang: thấy được bóng của khôi lồng

Dấu hiệu đã tháo lồng: hơi đã tràn sang ruột non, đó là những hình kén hơi ở quanh rốn.

Để tránh làm vỡ ruột cần có máy đo áp lực, chỉ bơm với áp . suất dưới 10cmHg có van để thoát ra khi bị tắc phân, nếu không tháo được phải mổ.

2. Mổ cấp cứu

Khi trẻ đến muộn hoặc tháo lồng không kết quả, phải mổ cấp cứu.

a. Chuẩn bị mổ:

Hút dạ dày

Truyền chậm dung dịch ngọt 5% X 300-500ml

b. Gây mê, thở oxy

c. Đường rạch: đường giữa trên rốn, chẹn gạc không để ruột non phòi ra.

d. Tìm khối lồng vuốt nhẹ tử đầu khối lồng. Nếu chưa được thì đắp nước ấm rồi lại vuốt nhẹ.

e. Khi tháo lồng xong, đặt manh tràng vào hố chậu phải

g. Có cắt ruột thừa hay không ? Không nên, vì dễ gây tai biến (phải ghi rõ trên phiếu mổ là chưa cắt bỏ ruột thừa).

h. Có khâu đính đại tràng hay không ? Ở trẻ còn bú không cần khâu đính; ở trẻ lớn hoặc tái phát lồng ruột nhiều lần thì khâu đính hồi tràng vào đại tràng lên, và manh tràng vào thành bụng,

i. Khâu đóng thành bụng ba lớp: màng bụng, cân và cơ, da.


3. Trường hợp không tháo lồng được hoặc khối lồng bị hoại tử, hoặc bị thủng khi tháo.

Cắt đại tràng ngoài ổ bụng theo phương pháp Mikulicz.

Cắt nửa đại tràng phải, nối bên - bên hay tận - tận cũng được (đưa đầu trên ra là bất đắc dĩ).

4. Săn sóc sau mổ

Ú ấm, Truyền huyết thanh, bãng cuộn chứ không nên đùng băng dính.

Sau khi tỉnh mê, hết nôn, cho uống nước đường; sau mổ 12 giờ cho bú.

Cắt chỉ ngày thứ 7-12

Sau cắt chỉ, băng lại bằng băng cuộn vì trẻ con khóc dễ đứt chỉ khâu, lòi ruột.