GIẬP NIỆU ĐẠO

I. ĐẠI CƯƠNG GIẬP NIỆU ĐẠO

Giập niệu đạo thường gặp ở nam giới nhiều hơn ở nữ giới.
Cần phải xử trí cấp cứu để tránh bí đái, viêm tấy nước tiểu (biến chứng gần) và hẹp niệu đạo (biến chứng muộn).
Niệu đạo chia làm hai phần: niệu đạo trước và niệu đạo sau. Do cấu tạo giải phẫu nên giập niệu đạo trước và sau có nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị khác nhau.

a. Niệu đạo trước: có mô xốp bao bọc, mô xốp dễ chảy máu, thường chảy máu vào trong niệu đạo hoặc gây máu tụ quanh niệu đạo. Niệu đạo trước được chia làm hai doạn:

Đoạn di động: niệu đạo dương vật, ít bị giật nứt

Đoạn cố định: niệu đạo bìu và niệu đạo tầng sinh môn, hay bị tổn thương nhất.

b. Niệu đạo sau: không có mô xốp bao bọc, ít chảy máu, nên

không bị xơ cứng, ít gây hẹp. Niệu đạo sau cũng chia làm hai đoạn:

Niệu đạo tiền liệt: có tuyến tiền liệt bao bọc, ít bị tổn thương

Niệu đạo màng: khi bị vỡ xương chậu, cân đáy chậu giữa bị toác thường kéo đứt niệu dạo màng, hai đầu lệch xa nhau.

II. GIẬP NIỆU ĐẠO TRƯỚC

1. Nguyên nhân

Niệu đạo dương vật: bị chạm thương khi dương vật đang cương, chỉ bị đứt một phần nhưng bị hẹp sớm.

Niệu đạo tầng sinh môn: do ngã ngồi lên thành ghế, mạn thuyền, khung xe đạp, làm niệu đạo bị đè vào xương vệ hay cành ngồi vệ của xương chậu (tổn thương hay gặp nhất).

2. Triệu chứng

Đau

Đái ra máu, có khi đái hoàn toàn ra máu, có khi chỉ có vài giọt ở miệng sáo.

Tụ máu hình cánh bướm ở tầng sinh môn, có khi lan sang bìu, tím bầm.

Bí đái, bàng quang căng. Thường do bí đái nên mới đi khám bệnh.

3. Diễn biến

Nếu không xử trí kịp thời sẽ gây nên:

Viêm tấy nước tiểu vùng tầng sinh môn, dù có rạch dẫn lưu cũng dễ gây lỗ rò niệu đạo, tầng sinh môn.

Hẹp niệu đạo, thường hẹp ỗ ngay trước thành niệu đạo.

4. Thái độ xử trí

a. Trường hợp bệnh nhãn vẫn đái được (thường do khối máu tụ ở tầng sinh môn nhỏ, không gây chèn ép):

Đặt ống thông niệu đạo bằng chất dẻo hay ống Nelaton trong hai ngày, vừa để cầm máu, vừa để tránh hẹp. Một tuần lễ sau kiểm tra nếu hẹp thì nong niệu đạo.

Cho thuốc kháng sinh để tránh nhiễm khuẩn

b. Trường hợp bệnh nhân không đái được

Có thể do phản xạ, nếu không có máu tụ lớn ở tầng sinh môn có thể đặt ống thông niệu đạo từ 2 đến 5 ngày, phải chú ý để không gây thêm tổn thương khi thông đái kiểm tra.

Nếu có khôi máu tụ lớn ở tầng sinh môn thì mở thông bàng quang rồi gửi về tuyến sau.

ở nơi có điều kiện mổ thì mổ dẫn lưu bàng quang, mổ chỗ niệu đạo ở tầng sinh môn, lấy hết máu tụ, đặt một ống thông niệu đạo, khâu nối tận - tận hai đầu niệu đạo đứt bằng chỉ catgut crôm.

c. Trong những năm đầu, phải thường kỳ kiểm tra, phát hiện hẹp niệu đạo để nong, hoặc cắt bỏ chồ hẹp và nối lại.

Để hẹp lâu sẽ làm giãn hệ tiết niệu ở trên.

III. GIẬP NIỆU ĐẠO SAU

1. Nguyên nhân

Thường giập niệu đạo màng, do gẫy xương hoặc toác xương vệ, nên niệu đạo cũng dứt đôi, hai đầu di lệch.

2. Triệu chứng

Dấu hiệu lâm sàng rất nhẹ, vì vậy phải kiểm tra kỹ khi có vỡ xương chậu (nhiều trường hợp bỏ sót).

Không đái ra máu hoặc đái ra máu rất ít

Không có tụ máu ở tầng sinh môn, sau 24 giờ có thể có vùng bầm tím ở hậu môn.

Thăm dò hậu môn gây đau khi ấn vào tuyến tiền liệt

Bí đái hoàn toàn là dấu hiệu chỉnh để phát hiện. Nếu không đái và không có cầu bàng quang phải nghĩ đến vỡ bàng quang. Phải phân biệt với bí đái do phản xạ bằng cách thông đái hoặc chụp niệu đạo - bàng quang có thuốc cản quang.

3. Diễn Biến

Nếu không xử trí kịp thời sẽ gây nên:

Viêm tây vùng khung chậu do ứ nước tiểu dẫn đến tử vong

Nếu có điều trị cũng dễ bị ứ nước tiểu mạn tính, dẫn đến nhiềm khuẩn ngược dòng hệ tiết niệu.

4. Thái độ xử trí

Trong cấp cứu thường chỉ nên mổ dẫn lưu bàng quang và cho kháng sinh để tránh nhiễm khuẩn ổ gẫy xương châu dẫn đến áp xe vùng tầng sinh môn,

Nếu có kinh nghiệm thì đùng ống nong lồng vào ống thông niệu đạo để đưa từ bàng quang ra, hoặc đưa từ miẹng sáo vào và dùng tay trong bàng quang để hướng dẫn qua chỗ đứt, nếu đặt được ống thông niệu đạo thì giữ ba tuần để nong niệu dạo. Không nên cố tìm cách để đặt ống thông niệu đạo vì sẽ gây tổn thương. '

Nếu chỉ dẫn lưu bàng quang thì chuyển ngay về tuyến sau để mổ sớm tránh các tổ chức xơ cứng gây hẹp niệu đạo. Bằng đường mổ tầng sinh môn tìm hai đầu niệu đạo đứt (dùng ống nong sắt đưa từ miệng sáo vào và từ bàng quang ra
để tìm), đặt ống thông niệu đạo và khâu nối hai đầu lại (khi
khau phai lay ca to chức (ỊỊUíình niệu đạo vì không phẫu tích
riêng niệu đạo ra được).

IV SĂN SÓC SAU MỔ

1. Để tránh nhiễm khuẩn

Rửa bàng quang và ống thông niệu đạo hàng ngày

2. Để tránh bàng quang bé

Trong ngày thỉnh thoảng kẹp ống thông niệu đạo

3. Sau khi vết mổ liền

Rút bỏ ống thông niệu đạo, phổi nong niệu đạo hàng ngày ít nhất 3 tháng

4. Hàng năm phải kiểm tra

Mặc dầu kỹ thuật mổ tốt, thường vẫn có rối loạn tiểu tiện