ĐO ÁP LỰC TĨNH MẠCH TRUNG ƯƠNG

I. ĐỊNH NGHĨA

Áp lực tĩnh mạch trung ương là áp lực đo ở tâm nhĩ phải, hoặc ở tĩnh mạch chủ trên.

II. KỸ THUẬT ĐO ÁP LỰC TĨNH MẠCH TRUNG ƯƠNG

1. Đồ dùng

Một cột áp kế nước bằng thuỷ tinh

Một Ống thông tĩnh mạch có đường kính l,5-2mm.

2. Đường vào tâm nhĩ phảỉ

Đi từ tĩnh mạch đùi ở bẹn: ống thông phải dài 75 cm,

Đi từ tĩnh mạch nền ở phía trong của khuỷu tay: ống thông dài 50cm.

Đi từ tĩnh mạch cổ tay hay tĩnh mạch dưới đòn: ống thông dài 20cm (nên dùng đường này).

3. Kỹ thuật đo áp lực tĩnh mạch trung ương

a. Cột áp kế phải đặt ở cao, trên xương ức 4cm hoặc cách mặt giường 10cm, phải kiểm tra trước mỗi lần đọc.

b. Khi luồn ống thông vào tới tĩnh mạch chủ hoặc tâm nhĩ phải, dùng bơm tiêm hút thử, máu tĩnh mạch phải trào vào bơm tiêm dễ dàng (đề phòng ống thông bị tắc, hoặc bị chỉt vào thành tĩnh mạch).

c. nếu luồn ống sâu vào tâm thất phải, sẽ thấy cột nước trong áp kế trên lên xuống theo nhịp đập của tim và áp lực lên cao quá phải rút lui ống lại ngay vì sợ gây rối loạn nhịp tim.

 

III PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ CỦA ÁP LỰC TĨNH MẠCH TRUNG ƯƠNG

1. Bình thường

Áp lực tĩnh mạch trung ương bình thường = 8cm nước.

2. Trường hợp bệnh lý

a. Trong sốc chấn thương, sốc chảy máu, sốc nhiễm khuẩn (kể cả sốc tim), nếu áp lực tĩnh mạch trung ương xuống thấp 0-3cm nước, là khối lượng tuần hoàn bị giảm, cần phải truyền tĩnh mạch.

Khi truyền dịch phải theo dõi. Nếu thấy áp lực tĩnh mạch trung ương cao vọt nhanh trên 10cm, cần đề phòng suy tim phải, hoặc suy tim toàn bộ, phải truyền dịch chậm lại hoặc ngừng hẳn.

b. Trong trường hợp bệnh nhăn vô niệu sau khi mổ, bị sốc, nhiễm khuẩn huyết mà thấy:

Áp lực tĩnh mạch trung ương thấp

Ưrê trong nước tiểu > 10g/l

là thiểu năng thận do khối lượng tuần hoàn bị giảm (cần truyền dịch).

Nếu áp lực tĩnh mạch trung ương cao trong trường hợp suy thở cấp tính, hẹp van hai lá, nhồi máu cơ tim gây sốc tim, thì không được truyền các chất dịch, mà phải dùng thuốc lợi tiểu (như lasilix).