DẪN LƯU MÀNG PHỔI

I. ĐẠI CƯƠNG

Trong phẫu thuật lồng ngực, bao giờ cũng phải dẫn lưu kín không để cho không khí lọt vào khoang màng phổi.
Máu là môi trường nuôi cấy vi khuẩn, vì vậy cần được hút hoặc dẫn lưu ra khỏi khoang màng phổi. Trong chấn thương lồng ngực so sánh giữa việc hút máu nhiều lần với dẫn lưu khoang màng phổi
người ta thấy hút máu nhiều lần dễ gây viêm mủ màng phổi, vì vậy nếu hút máu hai ba lần không hết thì nên dẫn lưu khoang màng phổi. Nếu phổi không giãn nở ra tới sát lồng ngực, còn những khoang trông, thì sẽ bị nhiễm khuẩn thành những ổ mủ đóng kén, vì vậy ngoài việc dẫn lưu phải giúp cho hô hấp tốt, hút đờm dãi, tập thở, tập ho.

II. DỤNG CỤ DẪN LƯU MÀNG PHỔI

- Trôca là ống chọc bằng kim loại, có thông nòng đầu hình chóp tù, có bốn cỡ với đường kính 7,8,10,12mm.

- Các ống dẫn lưu bằng nhựa cỡ từ 28-32 Fr. Có loại ống dẫn lưu có nòng bằng kim loại dùng để chọc vào khoang màng phổi, đỡ dùng trôca và cản quang để dễ kiểm tra bằng X quang.

- Một ỗng nối nôi ống dẫn lưu với ống khác ra lọ dẫn lưu.

- Một lọ dẫn lưu kín có 2 ống xuyên qua nút lọ, một ống để lơ lửng trong lọ, còn ống thứ hai phải ngập trong nước.

- Máy hút: máy này có thể chạy liên tục 24/24h

- Bộ phận giảm áp lực hút có thể điều chỉnh được

- Bơm và kim tiêm nhỏ để tiêm thuốc tê

- Dao mổ và vài cái kẹp

III. KỸ THUẬT DẪN LƯU Ổ NGỰC

1. Chọn chỗ chọc hút

A. Chụp X quang: để biết máu hoặc mủ ở mức nào trong ổ ngực Dùng bơm tiêm hút máu tìm vị trí dẫn lưu trước.

B. Dẫn lưu: nên làm ở gian sườn 5, hoặc 6, trên đường nách giữa. Nếu viêm mủ màng phổi, mủ lan tràn cả trong ổ ngực, không nhất thiết phải dẫn lưu ở chỗ thấp nhất, vì sau 4-5 ngày hai lá phổi dính vào nhau bắt đầu từ chỗ đáy và túi mủ ở cao hơn bên trên.

- Cũng do vậy mà nếu ống dẫn lưu khoang màng phổi bị tụt, mấy ngày sau cần dẫn lưu lại, thì phải hút tìm mủ ở cao hơn.

- Nếu phải dẫn lưu ở những ổ mủ đóng kén thì nhất thiết phải dẫn lưu ở đáy của ổ mủ, vì màng phổi đã xơ cứng không dính lại như trường hợp trên.

C. Gây tê dưới da ở chỗ định dẫn lưu

D. Dùng bơm và kìm tiêm hút tìm mủ hoặc máu trước khi đặt ống trô ca. Rạch da.

2. Đặt ống dẫn lưu

A. Đâm trôca có nòng vào khoang màng phổi qua gian sườn 5 hay 6, trên điểm mốc, đi sát vào bờ trên xương sườn để tránh bó mạch thần kinh gian sườn (ở gần bờ dưới xương sườn).

B. Rút bó nòng thông, bịt ngón tay vào đầu trô ca, đầu ống dẫn lưu có kẹp để không khí khỏi lọt vào ổ ngực.

C. Rút bỏ trôca, phải kẹp ống dẫn lưu trước khi rút hẳn ống trôca

D. Khâu đính ống dẫn lưu vào thành ngực. Đặt chỉ chờ

Nối ống dẫn lưu khoang màng phổi với bộ phận dẫn lưu vào lọ có đựng nước sát khuẩn, bỏ kẹp.

3. Theo dõi dẫn lưu

A. Theo dõi mức nước lên xuống ở ống thủy tinh cắm trong lọ, áp lực âm tính trong ổ ngực thay đổi từ -5 đến -20cm nước tuỳ theo thì thở.

B. Nếu không thấy mức nước ở trong ống thủy tinh lên xu ống là ống dẫn lưu bị tắc.

C. Khi lọ dẫn lưu đầy thì phải thay ngay

D. Cho người bệnh thờ mạnh để phổi giãn sát thành ngực.